Lm GIOAKIM ĐẶNG ĐỨC TUẤN TRONG BỐI CẢNH VĂN HÓA DÂN TỘC THẾ KỶ XIX
Pgs. Ts. Nguyễn Hữu Sơn (Học viện Khoa học xã hội – Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam)
***

Sống trên cõi đời 68 năm, Linh mục Gioakim Đặng Đức Tuấn (1806-1874) trải nghiệm một thời kỳ lịch sử phức tạp, nhiều biến động, trải dài suốt quá nửa thế kỷ XX, trong cục diện cuối mùa quân chủ phong kiến, đầu giai đoạn trực diện đối đầu với thực dân Pháp rồi bị người Pháp thôn tính, từng bước chuyển dần sang hiện đại hóa, tiếp nhận ảnh hưởng và giao thoa văn hóa Việt – Pháp, Đông – Tây. Đặt trong tương quan nhiều danh nhân lịch sử, văn hóa thế kỷ XIX khác, Linh mục Gioakim Đặng Đức Tuấn thể hiện là một kiểu nhân vật lịch sử, một nhân cách văn hóa đặc biệt, vừa bao quát, tích hợp, dung hòa vừa vượt lên nhiều kiểu nhân vật khác…
Trước hết, trên phương diện lịch sử, Đặng Đức Tuấn sống qua 4/13 đời vua triều Nguyễn, chiếm thời gian 68/143 năm, có 16 năm sống dưới thời Pháp xâm lược (1858-1874). Qua bốn triều vua khởi đầu triều Nguyễn, Đặng Đức Tuấn trải đời từ thời vua Gia Long thống nhất đất nước (1802-1820), nối tiếp hai đời vua Minh Mạng (1820- 1841) và Thiệu Trị (1841-1847) đến khi xảy ra các sự kiện Pháp nổ súng đánh Đà Nẵng (1858), Hòa ước Nhâm Tuất (1862) phải cắt nhượng ba tỉnh cho Pháp (Biên Hòa, Gia Định, Định Tường), sau đó là Hòa ước Giáp Tuất (1874) dưới thời vua Tự Đức (1847-1883) với việc chấp nhận sáu tỉnh Nam Kỳ thuộc Pháp và để người Pháp nắm quyền ngoại giao vào đúng năm ông qua đời (24/7/1874)… Như vậy, Đặng Đức Tuấn sinh ra dưới triều vua Gia Long giữa thời đất nước thanh bình, trưởng thành giữa bối cảnh tư tưởng Nho giáo “lại giống” trong cuộc đối đầu với xu thế thực dân hóa trên toàn thế giới và ở chặng cuối được tin cậy trong tình thế bất lực, bất khả kháng trước sức mạnh vượt trội của quân Pháp. Trên tổng thể, bi kịch Đặng Đức Tuấn nằm trọn trong khung bi kịch của cả dân tộc, đất nước và thời đại nối dài suốt thế kỷ XIX.
Trên phương diện địa – chính trị, có thể thấy vương triều Nguyễn luôn coi trọng vùng đất Trung Bộ với nhiều danh sĩ tài năng, thức thời, trung nghĩa, gắn bó với vương triều và luôn được tin cậy. Có thể vì thế mà phần đông các phái đoàn và sứ bộ ngoại giao liên quan đến phía Pháp thường là người miền Trung. Chẳng hạn, theo Lê Nguyễn, ngay chuyến đi sứ năm canh Tý (1840) có Tôn Thất Thường (người hoàng tộc) và Trần Viết Xương, đồng thời xác định: “Tháp tùng Tôn Thất Thường và Trần Viết Xương có hai thông ngôn xuất thân trong các gia đình giáo dân Thiên Chúa ở vùng phụ cận Huế; một người tên Võ Dụng (hay Dõng) biết nói tiếng Pháp, còn người kia biết nói tiếng Anh”99… Tiếp đến đại diện triều đình tham gia ký Hòa ước Nhâm Tuất (1862) chấp nhận cắt nhượng ba tỉnh Nam Kỳ (Biên Hòa, Gia Định, Định Tường) cho Pháp có Phan Thanh Giản (Vĩnh Long, nay thuộc Bến Tre) làm Chánh sứ, có Lâm Duy Hiệp (Bình Định) làm Phó sứ và chính Linh mục Đặng Đức Tuấn (Bình Định) cũng được triều đình tin tưởng giao nhiệm vụ phiên dịch, tháp tùng phái bộ Phan Thanh Giản – Lâm Duy Hiệp vào Gia Định thương thảo với người Pháp…
Thêm nữa, chuyến đi sứ Pháp năm Quý Hợi (1863) vẫn có Phan Thanh Giản (Vĩnh Long, nay thuộc Bến Tre) làm Chánh sứ, có Phạm Phú Thứ (Quảng Nam) và Ngụy Khắc Đản (Hà Tĩnh) làm Bồi sứ… Đặt trong tương quan nhân sự, việc Linh mục Đặng Đức Tuấn được vua Tự Đức, triều đình và phái đoàn thương thuyết tin tưởng trọng dùng có thể bởi họ thực sự hiểu được phẩm chất, tài năng và khí chất cương trực của con người miền Trung trong ông.
Trên phương diện tư tưởng, truy nguồn gia tộc thì thấy Linh mục Gioakim Đặng Đức Tuấn sinh tại làng Quy Hòa (nay là ấp Quy Thuận, xã Hoài Châu Bắc, thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định, thuộc giáo xứ Đại Bình, giáo hạt Bồng Sơn, giáo phận Quy Nhơn). Thân phụ ông tên Đặng Đức Lành, từng làm Câu địa sở Gia Hựu quê nhà, thuộc dòng dõi danh sĩ Đặng Đức Siêu (1751-1810). Thuở nhỏ, ông theo nghiệp Nho học, từ dự khoa thi Hương tại Thừa Thiên năm Ất Dậu (1825), vào đến Tam trường nhưng không đỗ nên trở về làm thầy đồ trường làng. Phải đến khi gần cận 40 tuổi, lứa tuổi “tứ thập nhi bất hoặc” mới được Giám mục Etienne-Théodore Cuénot Thế (1802-1861) khai tâm truyền giáo khi giáo hội vừa trải qua thời kỳ đặc biệt khó khăn mà Giám đốc chủng viện thuộc Hội Truyền giáo hải ngoại Paris trong thư thỉnh nguyện gửi vua Pháp Louis Philippe (1830-1848) vào năm 1841 đã tổng kết (được sưu tập và in lại trong Bulletin des Amis du Vieux Hue, số 4- 1928):
“Ông hoàng này [Gia Long – NHS thêm] mất vào năm 1820, người kế vị ông là vua Minh Mạng, ngay từ lúc khởi đầu triều đại của mình, đã chứng tỏ những khuynh hướng thù nghịch đối với Thiên Chúa giáo và các giáo sĩ đang giảng đạo. Trong những năm đầu tiên, vì nhiều lý do khác nhau, ông ta chỉ tự giới hạn trong việc dọa dẫm. Về sau, ông ta đi đến những biện pháp gây phiền nhiễu cho nhiều giáo sĩ. Cuối cùng, vào năm 1833, ông tiến hành một cuộc bức hại đẫm máu nhất đối với các giáo sĩ và giáo dân Thiên Chúa giáo”100… Rồi nhà giáo Nho học Đặng Đức Tuấn được Giám mục giới thiệu sang giảng dạy Hán văn ở Chủng viên Penang thuộc Malaysia (1846). Tại đây, ông học thêm tiếng Pháp và Latin và được nhận làm chủng sinh, sau 7 năm được thụ phong chức Phó tế và trở về quê hương phục vụ Giáo hội… Điều này cho thấy Đặng Đức Tuấn đã từ vị thế Nho học rồi nhập cuộc Thiên Chúa giáo và có thể chính nhờ đó mà ông hiểu tầng lớp vua quan hơn, kể cả hiểu những cực đoan trong nhận thức và phương thức ứng xử, hành động của triều đình để rồi vượt tầm tri thức thông thường và có phương án ứng phó phù hợp
Điều đặc biệt ở Linh mục Đặng Đức Tuấn là cả ngay khi bị nghi kỵ, tầm nã, truy đuổi trong hoàn cảnh khốc liệt vẫn vừa lẩn tránh vừa thực hiện mục vụ, vừa viết các bản điều trần và tìm cách gửi tới triều đình: “Thời gian ông làm phụng vụ ở Quảng Ngãi, cũng là lúc nước Nam bước vào thời kỳ bất ổn. Tàu chiến Pháp gây chiến ở Đà Nẵng, rồi Gia Định. Triều đình Huế nghi kỵ người Công giáo. Vua Tự Đức liên tiếp ra các sắc dụ cấm đạo vào những năm 1859, 1860, khắc nghiệt nhất là sắc dụ phân sáp năm 1860, được thực hiện triệt để vào năm 1861. Nhà thờ bị phá hủy, nhà cửa ruộng vườn các tín hữu bị tịch thu, các tín hữu bị bắt phân tán vào các làng mạc”, ông đã dũng cảm viết hai bản điều trần nổi tiếng Hoành mao hiến bình Tây sách (Kế sách chống Tây do kẻ sĩ ẩn dật cung hiến) và Minh đạo bình Tây sách (Kế sách chống Tây rõ ràng)101… Có thể thấy ở Linh mục Đặng Đức Tuấn cả bản lĩnh và nghệ thuật đấu tranh khi vào cuối năm Tân Dậu (1861), bị quan binh triều đình bắt giữ ở Nga Mân (xã Đức Phổ, Quảng Ngãi), sau đó bị áp giải về triều đình Huế. Trong thời gian này, ông đã chủ động viết tờ khai bằng bài vè bốn chữ, 88 câu, tìm cách thuyết phục cả Thượng thư Bộ Binh Lâm Duy Hiệp, Hiệp biện Phan Thanh Giản và chính vua Tự Đức. Nhờ những biện giải sáng rõ, thấu tình đạt lý, phân biệt giữa niềm tin tôn giáo (kính Chúa) và ý thức bề tôi, thần dân nước Việt (trung Quân) nên được vua Tự Đức ghi nhận, khen ngợi, đồng thời xem xét lại chủ trương, chính sách sực đoan trước đây, trực tiếp ban Chỉ dụ bãi bỏ lệnh phân sáp và ra lệnh nới lỏng lệnh cấm đạo.
Từ sức mạnh của niềm tin và lẽ phải, vào khoảng tháng 3-1862, Linh mục Đặng Đức Tuấn viết thêm hai bản điều trần nói về vấn đề cấm đạo và kế sách giảng hòa với người Pháp. Trên tổng thể, cả sáu bản điều trần đều nhằm khai sáng, lý giải ý nghĩa nhân văn của tinh thần Thiên Chúa giáo, sự khác biệt giữa hoạt động truyền bá Thiên Chúa giáo với chính sách thực dân của người Pháp (và phương Tây nói chung), từ đó chỉ rõ thực trạng đất nước, nhấn mạnh phương hướng củng cố khối đại đoàn kết toàn dân và phương lược tự cường dân tộc trước họa ngoại xâm.
Về cơ bản, Đặng Đức Tuấn đặt mình về phía quyền lợi triều đình, dân tộc, đất nước nhưng chỉ rõ thực trạng, tương quan lực lượng, lấy đó làm căn cứ để chỉ ra sách lược, biện pháp:
“Nay triều đình quyết không giảng hòa với giặc, thật là sách lược đúng đắn. Tuy nhiên hãy xét, nếu không giảng hòa mà bên ta quả có thế lực chế ngự, chiến thắng địch mới được, nếu không, dù nói có sách lược đúng đắn, cũng sẽ rất khó chi trì. Sau đây, xin được phép điều trần sách lược chế ngự, cơ mưu chiến thắng lũ mọi Tây” (Điều trần 1)102…
Trong cả sáu bản điều trần, Linh mục Đặng Đức Tuấn đặc biệt tập trung chỉ ra kẻ thù chính, kẻ thù xâm lược, mối nguy hai cụ thể, trực tiếp của nền độc lập dân tộc với chủ thuyết “Sách lược chế ngự bọn mọi Tây” (Phải tuyển binh (…), Đem lực lượng tinh binh hùng mạnh này đối địch với quân Tây, có gì phải sợ?… Phải diễn tập. Phép diễn tập không gì quan trọng hơn tập bắn súng (…). Đem lực lượng binh sĩ thiện xạ này ra quét sạch bọn mọi Tây, thu phục lãnh thổ, có gì là khó?… Phải luyện thuốc súng (…). Nếu quân ta bắn trúng và đi xa như bọn giặc Tây, dẫu có thành đồng, giáp sắt, ai cũng phải run sợ, lạnh gáy!); đề xuất “Sách lược chiến thắng bọn mọi Tây” (bàn về phép dùng binh, quan hệ lý và thế, nội lực và liên lập) (Điều trần 1). Có thể nói bản điều trần thứ nhất này đã khơi thông phần nào những ngộ nhận và nhận thức cực đoan, cổ hủ của vua Tự Đức và triều đình về sự nhập nhòa giữa giá trị tinh thần Thiên Chúa giáo và mục đích xâm lược của thực dân Pháp. Linh mục Đặng Đức Tuấn có cách biện biệt sáng rõ mà trước sau vẫn giữ vững lập trường, vẫn không trái ngược với những nguyên tắc cơ bản, tối cao của tinh thần Thiên Chúa giáo: “Còn như việc không chịu bỏ đạo, vì là đạo thật của đấng chủ tể muôn vật, chứ không phải vì lũ giặc nước Phú Lãng Sa” (Điều trần 3-4)
Trong lập luận ở các bản điều trần, với vốn kiến thức Nho học vững vàng, Linh mục Đặng Đức Tuấn đã khéo léo vận dụng, điều hòa nhiều nội dung tương thích, phù hợp với tinh thần Thiên Chúa giáo cũng như hoàn cảnh thực tiễn đất nước lúc bấy giờ. Trên hết, đó là tinh thần “trung quân báo quốc”, sự “thuận nghịch”, xác định sự khác biệt, mới mẻ của giặc Tây so với giặc phương Bắc xưa cũ, “bọn chúng kiêu dũng tuyệt vời, tài trí xuất chúng, hơn hẳn các rợ Hiểm Doãn đời Chu; Hung Nô đời Hán; Đột Quyết, Hiệt Lợi đời Đường; Tây Hạ, Kim Liêu đời Tống” (Điều trần 2); dẫn sử truyện nước Tề, “Xưa kia, chỉ một phụ nữ nước Tề bị oan khiên, Trong lập luận ở các bản điều trần, với vốn kiến thức Nho học vững vàng, Linh mục Đặng Đức Tuấn đã khéo léo vận dụng, điều hòa nhiều nội dung tương thích, phù hợp với tinh thần Thiên Chúa giáo cũng như hoàn cảnh thực tiễn đất nước lúc bấy giờ. Trên hết, đó là tinh thần “trung quân báo quốc”, sự “thuận nghịch”, xác định sự khác biệt, mới mẻ của giặc Tây so với giặc phương Bắc xưa cũ, “bọn chúng kiêu dũng tuyệt vời, tài trí xuất chúng, hơn hẳn các rợ Hiểm Doãn đời Chu; Hung Nô đời Hán; Đột Quyết, Hiệt Lợi đời Đường; Tây Hạ, Kim Liêu đời Tống” (Điều trần 2); dẫn sử truyện nước Tề, “Xưa kia, chỉ một phụ nữ nước Tề bị oan khiên, trời còn giáng xuống ba năm biến động” (Điều trần 2); dẫn giải sách kinh điển Nho giáo để phân định ngọn nguồn: “Xưa, thầy Tử Hạ hỏi Đức Khổng phu tử: “Phương nào có bậc thánh nhân?”. Đức Khổng Tử đáp rằng: “Phương Tây có bậc thánh nhân không nói mà dân có tín nghĩa, không ra lịnh mà dân thi hành, không làm gì mà dân thịnh trị, không nổi giận mà dân kính nể uy nghi”. Lời đáp ấy phải chăng chỉ về đạo này? Bởi thế đạo người trong nước ta học là đạo do đấng tạo hóa chủ tể lập ra, chứ không phải là đạo của nước Phú Lãng Sa. Nay bọn giặc này đến xâm lược nước ta, bèn mượn cớ xin bỏ lịnh cấm đạo làm danh nghĩa. Chẳng qua, mượn cớ ấy để lừa dối dư luận của mọi người mà thôi” (Điều trần 6)… Qua đây Linh mục Đặng Đức Tuấn đã chỉ ra tính tương đồng của tinh thần Thiên Chúa giáo với chân lý Nho giáo truyền thống, từ đó nhấn mạnh sự khác biệt với tư tưởng thực dân xâm lược cũng như mưu lược lợi dụng tôn giáo của các thế lực thực dân Pháp.
Nhằm soi tỏ chân lý, lẽ phải trái, sự minh bạch trước thực dân Pháp xâm lược, Linh mục Đặng Đức Tuấn đưa ra 5 câu hỏi, trong đó có ba câu trực diện hỏi người Pháp, chủ ý lật tẩy mưu mô xâm lược cũng như góp phần biện biệt, làm sáng tỏ tính độc lập, hợp pháp, tiến bộ của tinh thần Thiên Chúa giáo:
“Câu hỏi thứ hai: Lâu nay, vẫn nghe quý quốc là nước vốn theo đạo Thiên Chúa, giáo lý của Đức Da Tô dạy sự việc phải lấy ôn hòa khiêm nhường làm đầu, hành động phải lấy nhẫn nhục làm trước. Nay quý quốc vô căn cớ gây rối binh đao, không nguyên do tàn sát nhân mạng, mở mối chiến tranh, gây nên thù hận. Hành động như thế, lời dạy khiêm hòa nhẫn nhục ở tại chỗ nào?
Câu hỏi thứ ba: Xuất quân không có chính nghĩa, giết oan người vô tội, xâm lược đất người, chiếm đoạt của người, cướp bắt phụ nữ. Mấy chuyện này là những điều răn lớn trong đạo Thiên Chúa. Quý quốc đã lấy đạo Da Tô làm cớ, sao lại hủy hoại sạch các điều răn ấy? Thế mà muốn người bỏ lịnh cấm đạo, muốn người theo ý mính, khác nào trèo lên cây để bắt cá!
Câu hỏi thứ tư: Đất nước riêng biệt, phong tục khác nhau, chính thể các đời vốn có độc lập. Đạo giáo Thiên Chúa, cấm hay không cấm, tha hay không tha, đều bởi quyền vua. Nước Tây há có thể đem quân uy hiếp, ép buộc phải bỏ lịnh cấm đạo được chăng? Bắt ép không được, lại có thể chiếm đoạt thành trì đất đai được chăng? Đức Chúa Da Tô giáng sinh, dùng lời nói, hành động làm giáo lý, nêu rõ ở Thánh Kinh. Thờ kính Thiên Chúa, yêu mến mọi người, ai nấy đều chu toàn bổn phận; trung với Đức vua, hiếu với cha mẹ, người người thảy phải như thế. Từng nghe lấy nghĩa lý Đức hạnh ra giảng đạo, chưa từng nghe dùng gươm dao, tàu thuyền súng đạn ra giảng đạo bao giờ! Xin hỏi quý quốc hành động như thế là theo loại đạo lý nào?” (Điều trần 3- 4)…
Nhờ sự trải nghiệm quốc tế, Linh mục Đặng Đức Tuấn chỉ rõ vai trò của đội quân sĩ có đạo đối nghịch với quân xâm lược, nhấn mạnh ý nghĩa tuyên truyền chính nghĩa và thực hiện phản tuyên truyền với quân xâm lược Pháp: “Bọn Pháp sang nước ta, trước lấy bang giao làm danh nghĩa và xin bỏ lịnh cấm đạo làm tuyên ngôn. Bọn giặc ấy chẳng qua mượn hai cớ này để che đậy sự chê cười phê phán sau lưng của các nước khắp bốn phương mà thôi. Bọn giặc ấy phô trương hai cớ này làm chiêu bài hoa mỹ, loan truyền khắp các nước ở Viễn Tây (…). Người các nước ấy thấy quân lính nước ta có cờ lính đạo Da Tô, chắc chắn sẽ đăng báo bán gấp, loan truyền tin tức này cho các nước khắp bốn phương, để họ chê cười phê phán nước Pháp hoành hành vô đạo. Nước Nam không chịu giảng hòa và nay có người theo đạo Da Tô tình nguyện tử chiến” (Điều trần số 5)…
Qua đây, có thể thấy Linh mục Đặng Đức Tuấn đã ý thức sâu sắc về giá trị tinh thần Thiên Chúa giáo đến từ Tây phương với thế lực Pháp và Tây phương xâm lược, phân biệt giữa hành vi xâm lược của thực dân Pháp với chính các giá trị tinh thần Thiên Chúa giáo, đồng thời chỉ rõ tính thống nhất về lợi ích quốc gia, dân tộc và trách nhiệm của mọi con dân nước Việt trước công luận.
Bút pháp chính luận của Linh mục Đặng Đức Tuấn trở nên sắc sảo khi trực diện biện luận, phân tích, lý giải, chứng dẫn về những giá trị nhân văn, tiến bộ của đạo Thiên Chúa cả về giáo lý cũng như trong thực tiễn lịch sử Việt Nam.
Trong các bản điều trần, ông vừa thuyết giải chiều sâu niềm tin chân lý Thiên Chúa giáo vừa tổng thuật, xác nhận vai trò của các nhà truyền đạo thời dựng nước. Ông viện dẫn, minh chứng từ thực tế Giám mục Bá Đa Lộc đã khuông phò đức Thế Tổ Cao Hoàng đế Gia Long mưu phục quốc và đi đến khẳng định “Như thế, vào buổi đầu mở nước, người trong đạo chưa từng phản bội hoàng triều, gặp vận hội trung hưng đấy, đều có công phù trì đức Thế Tổ. Há rằng đạo ấy lúc đầu yêu nước trung vua, nay lại hóa ra phản nghịch? Chắc chắn không có lẽ nầy! Bởi thế, vào thời đức Thế Tổ ta còn tại vị, đã cho phép đạo ấy hoạt động, trước nay không hề cấm đoán. Tại các phường ấp xã thôn, đều cho xây cất nhà đạo, giáo đường rao giảng đạo Thánh. Ấy chính là trời mở vận hội văn minh, đổi loạn thành trị, giúp vua tính kế, xếp đặt mọi chuyện, xây dựng rỡ ràng, xứng đáng lưu truyền đến muôn đời, không hề gây ra tệ hại” (Điều trần 2); nhấn mạnh vị thế công dân và xã gần nói đến quyền con người: “Thật ra, đạo ấy vốn chẳng phải xưa chính nay tà, mà người giữ đạo ấy lại chịu sự đối xử khác biệt một trời một vực! Hơn nữa, các khoản lính tráng, sưu thuế của người có đạo cũng đóng bằng dân thường, không khác chút nào. Nay triều đình đối xử với họ như thế, há chẳng tổn thương đếnlòng nhân đức yêu thương muôn dân như một, khiến khắp chỗ xóm làng đông đúc chưa thỏa đáng tình nghĩa bình đẳng giữa người người?” (Điều trần 2)…
Linh mục Đặng Đức Tuấn phân tích xác đáng tinh thần yêu nước và ý thức nghĩa vụ vì nước, vì chính nghĩa, vì quyền độc lập dân tộc: “Người có đạo nước Nam tuy ít ỏi yếu đuối, cũng tình nguyện chiến đấu trước với quân Tây. Chiến đấu không thắng nổi, dù chết cũng cam lòng! Vì nước chịu gian lao, hy sinh cho đại nghĩa, một là để chứng tỏ người theo đạo Thiên Chúa không có mưu đồ tham lam tài lợi, hai là để chứng tỏ người theo đạo Thiên Chúa thật có lòng ái quốc trung quân, ba là để chứng tỏ người theo đạo Thiên Chúa vốn chẳng đồng lòng với bọn giặc Tây âm mưu phản quốc” (Điều trần 3-4). Thêm nữa, với vị thế Linh mục, Đặng Đức Tuấn chủ ý toát yếu năm điều răn “phải tin” và mười điều răn “phải giữ” để trả lời chất vấn của đại nhân Thượng thư Bộ Binh Lâm Duy Hiệp và khẳng định: “Chỉ lấy đạo lý suy luận, kẻ không trung thành với nhà vua thì cũng giống kẻ không kính tin Thiên Chúa vậy. Bởi thế, kẻ biết thờ phượng Thiên Chúa chắc chắn thật sự trung quân ái quốc. Kẻ tham sống sợ chết, cùng kẻ đã bỏ đạo, bọn này vốn khó đoán được lòng. Nếu người có thực tâm thờ phượng đạo Thiên Chúa, chắc chắn sẽ dốc lòng trung vì nước” (Điều trần 6
Trong một tầm nhìn khác, Linh mục Đặng Đức Tuấn tỏ ra kiên định, kiên quyết với lập luận cũng như định hướng hành động bằng việc đưa ra biện pháp và cam kết liên quan trực diện đến vị thế bề tôi, thần dân, chúng dân, sinh dân nước Việt của người có đạo. Linh mục bày tỏ những việc trên hết, trước hết, cần làm ngay để khoan sức dân và tạo niềm tin với giáo dân: “Cúi xin Hoàng thượng mở lượng nhân từ chở che của trời đất, kế thừa đức hiếu sinh của các đấng tiên vương, phàm người có đạo bị đày ải giam cầm đều xin phóng thích về, để thoát khỏi cảnh lầm than đói rét, thì nhân sự sẽ an hòa, phước trời sẽ đầy dẫy, mọi nhiễu nhương rắc rối sẽ tiêu tan như băng tuyết” (Điều trần 2), từ đó nêu ra những chủ trương, biện pháp, điều luật quyết đoán, thậm chí tàn nhẫn, hà khắc kiểu phong kiến: “Đến như chuyện giặc Pháp xâm lăng ngang ngược, xin ra lịnh cho người có đạo giúp nước lập công. Ai phản nghịch, sẽ bị giết hết cả họ (NHS nhấn mạnh). Kẻ có đạo dù thịt nát xương tan cũng cố báo đền ơn nước, quyết chẳng hai lòng. Kẻ có tài năng, cống hiến tài năng; kẻ có sức lực, cống hiến sức lực, ắt sẽ gắng gỏi bình định được giặc mới thôi” (Điều trần 2); khẳng định ý chí chống xâm lược: “Người có đạo nước Nam tuy ít ỏi yếu đuối, cũng tình nguyện chiến đấu trước với quân Tây. Chiến đấu không thắng nổi, dù chết cũng cam lòng! Vì nước chịu gian lao, hy sinh cho đại nghĩa, một là để chứng tỏ người theo đạo Thiên Chúa không có mưu đồ tham lam tài lợi, hai là để chứng tỏ người theo đạo Thiên Chúa thật có lòng ái quốc trung quân, ba là để chứng tỏ người theo đạo Thiên Chúa vốn chẳng đồng lòng với bọn giặc Tây âm mưu phản quốc” (Điều trần 3-4); “Nếu chúng chịu bãi binh thì thôi, nếu không chịu bãi binh, phải lên tiếng triều đình đã ra lịnh cho quân sĩ theo đạo Da Tô lên trước quyết chiến với quân Tây, vì nước dốc lòng trung. Kẻ có công sẽ được tưởng thưởng, nếu ai theo giặc Tây, sẽ bị giết hết thân thuộc vợ con (NHS nhấn mạnh)” (Điều trần 5); kể cả đặt giả định và kiến nghị sòng phẳng: “Nếu triều đình chưa hết nghi ngờ, hễ ai đầu quân, cứ đem vợ con thân thuộc của họ giao cho làng tổng địa phương quản thúc (NHS nhấn mạnh). Một là để phòng ngừa đào ngũ, một là để được lạc nghiệp an cư (…). Giả sử binh lính ứng nghĩa xuất chiến mà phản quốc, dù triều đình tru lục sạch cả gia tộc (NHS nhấn mạnh), họ cũng cam lòng” (Điều trần số 6)…
Hơn một lần, Linh mục Đặng Đức Tuấn đã đàng hoàng, kiên trung và khảng khái đưa chính bản thân mình làm minh chứng: “Triều đình không cần nghi ngờ kẻ ngu dùng lời cật vấn để làm kế thoát thân. Vạn phần không thể có điều đó! Nếu quả thật có lòng ấy, kẻ ngu cần gì phải điều trần mưu kế, chờ đợi các quan ở kinh đô tiến dâng sách lược bình Tây? Nếu kẻ ngu muốn thoát thân cầu an tạm bợ, ba bốn năm trước đã trốn ra Trà Sơn, hoặc trốn vào Gia Định, nào có khó gì?” (Điều trần 3-4). Ông thống thiết phân tích, lập luận, bày tỏ mọi lẽ và chứng dẫn sự thật: “Triều đình không cần nghi ngờ người theo đạo Da Tô trở mặt chống phá, cũng như không cần nghi ngờ người theo đạo cầu viện quân ấy kéo sang, để trong ngoài hợp sức, ngấm ngầm thông tin, kiếm cách xâm lược. Vạn phần chẳng có lẽ này! Nếu quả thật người theo đạo Da Tô có bụng dạ này, khi quân ấy mới sang, tại địa phương các tỉnh chưa thi hành lịnh giam giữ, xăm chữ, phân sáp hơn một năm trước, bấy giờ người có đạo đã đồng loạt đưa hết vợ con thân thích chạy theo giặc ấy, nào ai có thể cấm ngăn? Tuy nhiên, vốn chẳng có bụng dạ này, chỉ biết ở trên đất vua, làm dân của vua, giữ đúng phép nước, chẳng khác mọi người. Binh lính, sưu dịch, thuế má đều đóng y hệt người khác. Từ trước đến nay, nhất loạt như thế, là điều mắt thấy tai nghe. Chẳng những họ không chịu theo giặc Tây mà còn oán hận giặc Tây ngang ngược đến tận xương tủy” (Điều trần 3-4)
Trong cuộc đời mình, Linh mục Đặng Đức Tuấn đã sống chính trực, ngay thẳng, minh triết, tốt đời đẹp đạo và với tinh thần tử vì đạo, dám đánh cược số phận mình qua sáu bản điều trần gửi tới triều đình và vua Tự Đức, biến nguy thành an. Có thể nói chính sáu bản điều trần này đã góp phần khai minh nhận thức cho vua Tự Đức về bản chất Thiên Chúc giáo, đóng góp lịch sử cũng thực tế các mối quan hệ tôn giáo – chính trị – xã hội chằng chéo, phức tạp đương thời. Thế rồi Linh mục được vua Tự Đức cử làm thông ngôn tháp tùng sứ bộ Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp vào Gia Định thương nghị với Pháp, chấp nhận ký Hòa ước NhâmTuất (5/6/1862). Trước thực tế quân Pháp áp đặt, dồn ép, đòi bồi thường chiến phí năm triệu đồng và cắt giao trọn sáu tỉnh Nam Kỳ, Đặng Đức Tuấn đã phân tích thấu tình đạt lý, thực diện “Dĩ bất biến ứng vạn biến”, chỉ có thể chấp nhận bồi thường chiến phí chứ không thể cắt đất cho giặc. Các công trình nghiên cứu đều thống nhất đánh giá cao nhận thức tư tưởng, lập trường, nguyên tắc về chủ quyền lãnh thổ dân tộc mà Linh mục đã tự thuật:
Phan, Lâm đòi Tuấn hỏi han:
Tây xin nhiều quá, Tuấn bàn làm sao?
Tuấn rằng: Ông lớn lượng cao,
Đòi bồi thì chịu, đừng giao tỉnh thành.
Ý tôi thời vậy đã đành,
Mặc lượng quan lớn quyền hành chủ trương.
Quan bèn nói với Tây dương.
Xin hãy nghĩ lại khoản thường khoản giao.
Sao cho đừng thấp đừng cao,
Sao cho vừa phải lẽ nào mới an.
Như lời xin trước khó toan,
Mặc lượng Nguyên soái định bàn phen sau103.
(Lâm nạn phụng quốc hành)
Ngay sau khi Hòa ước được ký kết, vua Tự Đức tiếp tục tin tưởng Đặng Đức Tuấn và nhân dịp khánh tiết thánh thọ đã ra Chỉ dụ bãi bỏ lệnh phân sáp104. Quốc sử quán triều Nguyễn đã ghi nhận việc này105. Chính Linh mục Đặng Đức Tuấn cũng xác nhận việc xóa bỏ một phần nội dung phân sáp nghiệt ngã, sai trái và chính ông cũng được khoan thứ, rộng đường về quê, kể cả việc sau này được vua Tự Đức hai lần triệu mời về kinh đô Huế tham vấn việc nước:
Mười chín tháng năm chỉ ra,
Phụ nữ, lão ấu đều tha cho về.
Dọn dẹp gánh xách về quê,
Nam tráng, đầu mục, một bề còn giam.
Ngày hai mươi bốn tháng năm,
Châu phê cho Tuấn về thăm quê mình…
…Chữ rằng: Thiên địa hảo hoàn,
Đắng cay qua khỏi bình an lại gần.
Chỉ đòi ra Huế hai lần,
Việc dân, việc nước điều trần căn nguyên.
(Lâm nạn phụng quốc hành)
Ở chặng cuối cuộc đời, trong hoàn cảnh đất nước tiếp tục suy vi trước thế lực thực dân Pháp, Linh mục Đặng Đức Tuấn được bổ nhiệm làm cha sở Nước Nhỉ (nay thuộc xã Mỹ Lợi, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định), tiếp tục công việc truyền giáo, chăm sóc mục vụ và sáng tác thơ ca cho đến khi qua đời (24/7/1874)
Thay lời kết
Danh nhân văn hóa Linh mục Đặng Đức Tuấn sống vào giai đoạn đặc biệt phức tạp, đất nước đứng trước họa ngoại xâm và xã hội diễn ra nhiều sự phân cực. Vốn được đào tạo bài bản, Linh mục Đặng Đức Tuấn hội đủ tri thức, bản lĩnh, góp phần gỡ rối, hóa giải nhiều vấn đề mang tầm thời đại, quốc gia, dân tộc. Về sự nghiệp văn hóa – văn học, ông để lại nhiều tác phẩm nghị luận, điều trần, thơ ca, diễn ca, khuyến giáo, văn tế, cách ngôn, vè… Nói riêng dòng văn điều trần của Linh mục Đặng Đức Tuấn có giá trị đặc biệt trên nhiều phương diện, phản ánh sắc nét đời sống tinh thần thời đại, lịch sử và xã hội Việt Nam thế kỷ XIX.
Tên tuổi Linh mục Đặng Đức Tuấn trở thành biểu tượng cho các giá trị nhân văn, được đặt tên cho một con đưởng ở thành phố Huế và giải thưởng văn thơ của Giáo phận Quy Nhơn, chắc chắn còn có sức lan tỏa sâu rộng cho hôm nay và mai sau…
(Nguồn: Tài liệu tham khảo cho Tọa đàm ngày 23/9/2023 tại TGM Quy Nhơn)