ĐẶNG ĐỨC TUẤN TRONG PHONG TRÀO CANH TÂN NỬA CUỐI THẾ KỶ XIX
ĐẶNG ĐỨC TUẤN TRONG PHONG TRÀO CANH TÂN
NỬA CUỐI THẾ KỶ XIX
Tác giả: Pgs. Ts. Đoàn Lê Giang (Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP.HCM-Tham luận tại Tọa đàm ngày 23/9/2023 do TGM Quy Nhơn tổ chức)
***

Mở đầu
Nói đến phong trào canh tân nửa cuối thế kỷ XIX người ta hay nhắc đến các trí thức áo vải như Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch, Đinh Văn Điền… hay các quan nhân như Phan Thanh Giản, Trần Tiễn Thành, Phạm Phú Thứ, Đặng Huy Trứ, Nguyễn Thông…, nhưng còn một tên tuổi nữa ít được nhắc đến là Đặng Đức Tuấn (1806-1874).
Đặng Đức Tuấn xuất thân từ nho sinh trong một gia đình Thiên Chúa giáo lâu đời ở Bình Định, được mời đến Đại chủng viện ở Penang dạy chữ Hán, nhờ thế mà được đào tạo ở đây để trở thành linh mục. Đặng Đức Tuấn viết không thật nhiều, nhưng các điều trần của ông có thể nói là sớm nhất và có những tư tưởng quan trọng giúp ích cho triều đình, được triều đình ủng hộ một phần và mở đường cho các trí thức canh tân sau này.
- Từ thầy dạy chữ Hán thành thầy cả rồi cố vấn triều đình Đặng Đức Tuấn sinh năm Bính Dần, niên hiệu Gia Long thứ năm (1806). Quê ở làng Quy Hòa, nay là ấp Quy Thuận, xã Hoài Châu Bắc, thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định.
Thân phụ là Đặng Đức Lành, làm Ông trùm(93) Giáo xứ Gia Hựu, hạt Bồng Sơn. Anh của Đặng Đức Tuấn là Đặng Đức Hòa đậu tú tài. Năm Ất Dậu (1825) Đặng Đức Tuấn thi hương ở trường thi Thừa Thiên, vượt qua trường nhất, trường nhì với bài thi xuất sắc, nhưng tới trường thứ ba thì bị phạm quy nên bị đánh rớt. Từ đấy Đặng Đức Tuấn thôi mộng khoa cử, nhưng việc thi cử như thế cho thấy Đặng có một trình độ Nho học vào loại vững vàng. Lúc bấy giờ số chủng sinh người Việt ở các Đại chủng viện Penang (Malaysia) khá đông. Trong chương trình đào tạo cho chủng sinh người Việt có môn chữ Hán chữ Nôm (và chữ Quốc ngữ), các môn này trước nay đều do người Hoa dạy, nhưng người Hoa thì không biết âm Hán Việt cũng như chữ Nôm, nên Đại chủng viện muốn tìm thầy giáo người Việt. Khoảng năm 1847 Đặng Đức Tuấn được mời đến Đại chủng viện Penang (Malaysia) để dạy chữ Hán chữ Nôm. Năm ấy ông đã 41-42 tuổi. Ở đấy ngoài việc dạy chữ Hán chữ Nôm ông còn làm chủng sinh để được đào tạo làm linh mục. Ông ở Penang tổng cộng 7 năm từ 1847 đến 1854 (từ năm 41 đến 48 tuổi). Vào thời ấy, Trương Vĩnh Ký (1837- 1898) cũng đang học ở Penang, thời gian học khoảng 7 năm, từ 1851 đến 1858. Như vậy Trương Vĩnh Ký kém Đặng Đức Tuấn 31 tuổi, học ở Penang từ năm 14 đến 21 tuổi, là học trò chữ Hán chữ Nôm của Đặng Đức Tuấn chứ không phải là bạn học
Đặng Đức Tuấn được phong chức phó tế và về nước khoảng 1854-1855. Năm 1856 ông được thụ phong chức linh mục (50 tuổi), được cử đi coi xứ đạo Châu Me và Trung Tín ở Quảng Ngãi (nay thuộc huyện Đức Phổ, Quảng Ngãi).
_________________
93 Ông trùm: người đứng đầu Ban Trùm Họ hay Ban Quí Chức của giáo xứ. Ông trùm có nhiệm vụ giúp các linh mục trong việc truyền giáo, tổ chức họ đạo, thăm viếng người khó khăn, bệnh tật, làm lễ rửa tội cho trẻ sơ sinh.
____________
Ở đó được 6 năm, đúng vào thời gian Pháp xâm lược, tình hình cấm đạo rất nghiêm khắc, linh mục tìm đường về quê lánh nạn.
Ở Bình Định Giám mục Cuénot bị bắt rồi bị bệnh chết trong ngục, Đặng Đức Tuấn lại tìm đường ra Quảng Ngãi thì bị bắt ở Nga Mân (Mộ Đức), Quảng Ngãi, lúc ấy là đầu tháng 12 năm 1861. Trong khi trốn tránh ở Bình Định ông đã viết sẵn 2 bản điều trần về tình hình Tây dương và vấn đề Thiên Chúa giáo để phòng khi bị bắt thì quan quân triều đình hiểu về mình. Khi bắt Đặng Đức Tuấn, Tri huyện Mộ Đức thấy có 2 bản điều trần bèn cho giải ông lên tỉnh. Các quan đầu tỉnh Quảng Khải tra khảo ông về nhân thân và chuyện truyền đạo, nhưng không ra manh mối gì. Gặp lúc quan Biện lý bộ Hình đi kinh lý qua, thấy 2 bản điều trần có liên quan đến quốc sự, bèn yêu cầu giải gấp ông về Kinh.
Khoảng giữa tháng 12 năm 1861 ở Kinh đô Đặng Đức Tuấn được Thượng thư bộ Binh Lâm Duy Hiệp, Thượng thư bộ Hình Phan Thanh Giản là những đại thần thuộc Cơ mật viện xét hỏi. Các ông hỏi về thái độ chính trị của Thiên Chúa giáo và nguyên nhân quân Pháp xâm lược nước ta. Đặng Đức Tuấn trình bày trôi chảy, ông nói rõ ràng về nỗi khổ của các linh mục bị bách hại, giáo dân bị tra tấn, bắt bước qua, phân sáp. Nhờ thế ông được tin tưởng. Phan, Lâm yêu cầu ông viết tiếp điều trần thứ ba, thứ tư. Đồng thời vua Tự Đức cho ông được tháo bỏ gông cùm, tự do đi lại.
Tháng 2/1861 Đại đồn Chí Hòa thất thủ, biết khó đánh thắng được thực dân Pháp, triều đình quyết định nghị hòa. Tháng 1 năm 1862 Đặng Đức Tuấn tiếp tục viết thêm điều trần thứ 5, thứ 6 về chính sách đối với giáo dân Thiên Chúa. Nghe theo đề nghị của ông, triều đình sức cho các địa phương thả giáo dân, cho họ về quê, không giam cầm hay bắt buộc họ phân sáp nữa. Triều đình cử Đặng Đức Tuấn theo Phan Thanh Giản, Lâm Duy Hiệp đi tàu Pháp vào Sài Gòn thương nghị. Trước khi đi vua Tự Đức cho vời Đặng Đức Tuấn vào cung bệ kiến để hỏi thêm về tình hình đất nước. Đây quả là một hân hạnh lớn lao với ông.
Vào Sài Gòn, Phan Thanh Giản, Lâm Duy Hiệp vào thương nghị với Pháp. Quân Pháp đòi bồi hoàn chiến phí 5 triệu đô-la và đòi cắt sáu tỉnh Nam Kỳ cho chúng. Phan, Lâm hỏi ý Đặng Đức Tuấn. Ông trả lời: Đòi bồi hoàn thì có thể chấp nhận, nhưng không được cắt đất cho chúng. Phái đoàn Đại Nam nghị hòa trong thế yếu, Phan, Lâm đã không thấy hết nguy cơ cắt đất như Đặng Đức Tuấn đã cảnh báo, nên đã đặt bút ký Hiệp ước Nhâm tuất (5 tháng 6 năm 1862) chấp nhận bồi thường 4 triệu đô-la và cắt 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ cho Thực dân Pháp.
Từ tháng 7 năm 1862 Đặng Đức Tuấn được cho về thăm quê, được Giáo hội cử đi coi mấy xứ đạo ở Quảng Ngãi, Bình Định. Trong khoảng thời gian 1866 -1867 ông được vua Tự Đức triệu về Kinh bàn về quốc sự. Ông mất ở nhà thờ Nước Nhĩ (Bình Định) ngày 11 tháng 6 năm Giáp tuất (tức 21/7/1874). Mộ ông tọa lạc ở Nhà thờ Nước Nhĩ cũ, sau dời về chôn ở nhà thờ Nước Nhĩ mới như hiện nay.

(PGS-TS Đoàn Lê Giang đứng cạnh Đc Matthêô, bên trái)
Tác phẩm của Đặng Đức Tuấn gồm có:
- Điều trần 1: Hoành mao hiến bình Tây sách: Sách lược bình Tây dâng từ nhà tranh của đạo trưởng Đặng Đức Tuấn ở thôn Quy Thuận, xã An Sơn, huyện Bồng Sơn, tỉnh Bình Định;
- Điều trần 2: Tấu vị đương cuộc tặc tình chế thắng duyên do cung triệp điều trần sự: Điều trần kính tâu lý do chiến thắng xét theo thế giặc hiện nay của đạo trưởng Đặng Đức Tuấn ở thôn Quy Thuận, xã An Sơn, huyện Bồng Sơn, tỉnh Bình Định
- Điều trần 3 và 4: Tự Đức thập tứ niên thập nhất nguyệt nhị thập nhất nhật: Điều trần năm Tự Đức thứ 14 ngày 21 tháng 11 (22/12/1861)
- Điều trần 5: Vị cung thừa Binh bộ cứu vấn tặc tình: Kính vâng chất vấn của bộ Binh về tình hình giặc, viết năm Tự Đức 14, ngày 5 tháng Chạp (4/1/1862) của Đạo trưởng Đặng Đức Tuấn
- Điều trần 6: Tự Đức thập tứ niên thập nhị nguyệt sơ bát nhật (Diều trần năm Tự Đức 14, ngày 8 tháng Chạp (7/1/1862))
- Thuật tích việc nước Nam, thơ Nôm trường thiên, dài 1.028 câu. Gồm 2 phần: – Phần 1: từ câu 1 đến câu 617: Thuật lại lịch sử truyền bá đạo Thiên Chúa giáo ở Việt Nam – Phần 2: từ câu 618 đến câu 1023: Thuật chuyện Linh mục Đặng Đức Tuấn bị bắt, giải về Kinh và trở thành cố vấn của triều đình.
- Tân cựu sấm truyền lục bát kinh văn, Lm. Phaolô Lê Đình Ban phiên âm từ chữ Nôm sang chữ Quốc ngữ, in trong Chức Dịch thơ tín, Nhà in Địa phận Kontum, từ No6, Octobre 1933 đến No19, Novembre 1934 (xem bài giới thiệu của Lê Minh Sơn trên trang web Hội đồng giám mục Việt Nam, link: https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/-tan[1]cuu-sam-truyen-luc-bat-kinh-van-cua-linh-muc-gioakim[1]dang-duc-tuan-42969
- Vấn đề tác quyền của bài Nói vần những câu chữ người ta quen dùng gồm 260 câu thành ngữ, danh ngôn Hán Việt thường dùng. Bài văn vần này lần đầu tiên được Trương Vĩnh Ký đăng trên Thông loại khóa trình/ Miscellanées số 9, tháng 1
năm 1889 đề của Linh mục Đặng Đức Tuấn (tr.4-tr.7). Cũng có những ý kiến thắc mắc: Các câu thành ngữ, danh ngôn trong này có nhiều câu rất quen thuộc, có lẽ không phải của Đặng Đức Tuấn. Vậy vấn đề tác quyển bài này thế nào? Xin đọc thử đoạn mở đầu: “Thiên võng khôi khôi, sơ nhi bất lậu; Chưởng đậu đắc đậu, chưởng qua đắc qua; Tích thiện phùng thiện, tích ác phùng ác; Kiến cơ nhi tác, dục tốc bất đạt…” Tra cứu kỹ từng câu ta thấy: – Thiên võng khôi khôi, sơ nhi bất lậu (Lưới trời lồng lộng, thưa mà không lọt). Nguyên văn: 天网恢恢疏而不漏. Câu này xuất xứ từ sách Đạo đức kinh 道德經 của Lão Tử, chương 73 – Chưởng đậu đắc đậu, chưởng qua đắc qua (Trồng đậu được đậu, trồng dưa được dưa). Phiên chính xác là: Chủng đậu đắc đậu, chủng qua đắc qua. Nguyên văn chữ Hán: 種豆得豆, 種瓜得瓜. Câu này bắt nguồn từ Chủng qua đắc qua, chủng lý đắc lý 種瓜得瓜, 種李得李 (Trồng dưa được dưa, trồng lý được lý) trong Niết bàn kinh 涅槃經. Sách Lã ngữ tập toái – Tồn dưỡng 呂語集粹·存養 có câu tương tự: Chủng đậu kỳ miêu tất đậu, chủng qua kỳ miêu tất qua 種豆, 其苗必豆, 種瓜, 其苗必瓜 (Trồng đậu thì mầm là đậu, trồng dưa thì mầm là dưa). – Tích thiện phùng thiện, tích ác phùng ác, nguyên văn: 積善逢善, 積惡逢惡, nghĩa là: Tích thiện gặp thiện, tích ác gặp ác. Câu này xuất xứ từ tập truyện Dụ thế minh ngôn 喻世明言, quyển 26 của Phùng Mộng Long (1574–1646), nhà văn đời Minh.
– Kiến cơ nhi tác, dục tốc bất đạt 見幾而作, 欲速不. Câu này có nguồn gốc từ 2 sách khác nhau: (1) Kiến cơ nhi tác 見幾而作 (thấy cơ hội thì làm) xuất xứ từ Kinh Dịch, Hệ từ hạ 周易·繫辭下: Quân tử kiến cơ nhi tác, bất sĩ chung nhật 君子見幾而作, 不俟終日 (Người quân tử thấy thời cơ thì làm ngày, không đợi hết ngày). (2) Dục tốc bất đạt 欲速不 達 (muốn nhanh thì không được việc). Câu này là của Khổng Tử trong sách Luận ngữ – Tử Lộ 論語 -子路: Dục tốc tắc bất đạt 欲速則不達. Với những dẫn chứng trên có thể kết luận: Bài Nói vần những câu chữ người ta quen dùng là tập hợp các câu ngạn ngữ, danh ngôn thường dùng từ các sách Trung Quốc. Đặng Đức Tuấn đã sắp xếp lại cho vần vè giúp cho người học chữ Hán dễ thuộc. Chắc là bài này Trương Vĩnh Ký đã được thầy Đặng Đức Tuấn dạy ở Đại chủng viện Penang trong thời gian 1851-1854, sau đó Trương Vĩnh Ký đã đăng trên Thông loại khóa trình.
- Tư tưởng canh tân chống Pháp của Đặng Đức Tuấn
2.1. Tư tưởng canh tân của Đặng Đức Tuấn thể hiện sớm nhất, tập trung nhất trong điều trần 1: Hoành mao hiến bình Tây sách: Sách lược bình Tây dâng từ nhà tranh của đạo trưởng Đặng Đức Tuấn ở thôn Quy Thuận, xã An Sơn, huyện Bồng Sơn, tỉnh Bình Định. Bản điều trần này tuy không nói rõ năm nào, nhưng người ta biết chắc là được viết sau khi Pháp đã đánh chiếm thành Gia Định tháng 2/1859 đến trước khi bị bắt tháng 12/1861. Thời điểm khả dĩ nhất là khi Đặng Đức Tuấn đang trốn tránh ở Bình Định, tức 1861. Mở đầu, bản điều trần nói về thân thế và tấm lòng của mình với vua với nước, tình hình của địch và thái độ ứng phó của triều đình.
Đặng Đức Tuấn xác định mình là con dân của vua của nước, nên dầu là linh mục Thiên Chúa giáo thì điều ấy không mâu thuẫn với đạo đức trung hiếu mà ai thuộc nằm lòng thì khi bắt đầu học chữ Nho: “Đối với kẻ thù của vua của cha, quyết chẳng đội trời chung; tấc lòng trung hiếu của tôi của con đền đáp đến chết mới hết (…) gặp hồi vận nước khó khăn, chính là lúc người nghĩa sĩ nếm mật nằm gai, chịu đựng gian khổ.” (Nguyễn Văn Thoa, 2017, tr.94)(94)
Đặng Đức Tuấn xác định rõ thực dân Pháp là kẻ thù của đất nước, cũng là kẻ thù của giáo dân Thiên Chúa giáo, trong đó có mình. Ông không mơ hồ gì về âm mưu và dã tâm của quân Pháp: “Pháp hoành hành, trước đã vô cớ gây mối binh đao, sau lại ngang ngược không chút kiêng kỵ. Đến nỗi chiếm cứ thành trì, sát hại dân chúng, chẳng thiếu việc gì. Tướng lãnh đã kiêu ngạo bất nhân, quân sĩ lại dã man tàn bạo, phá hoại kỷ cương, mặc sức tung hoành. Hành động như thế thật đáng ghét, đáng giết.” (tr.94)
Sách lược đối phó với địch, về mặt tình cảm, ông đồng ý với phái chủ chiến của triều đình, nhưng đánh là phải nghĩ làm sao mà thắng. Nhưng muốn thắng địch thì phải có sách lược đúng đắn: “Nay triều đình quyết không giảng hòa với giặc, thật là một sách lược đúng đắn. Tuy nhiên hãy xét, nếu không giảng hòa mà bên ta quả có thế lực chế ngự, chiến thắng địch mới được, nếu không, dù có sách lược đúng đắn thì cũng rất khó chi trì.” (tr.94) Sách lược thế nào? Đặng Đức Tuấn đưa ra hai phương sách cơ bản sau đây:
__________________
94 Nguyễn Văn Thoa (2017), Cuộc đời và tác phẩm của linh mục Đặng Đức Tuấn, NXB.Tổng hợp TP.HCM. Các dẫn chứng điều trần trong bài đều trích từ sách này, nên không chúng tôi chỉ viết số trang. Nếu dùng tài liệu khác thì chúng tôi sẽ nêu rõ tên người viết.
_____________
1) Cải cách quân đội: Cải cách quân đội bao gồm: – Tuyển lựa những người trẻ tuổi, sức vóc đang mạnh sung vào. Tuổi từ 20-40, thải bớt lính già yếu bệnh tật. Thời hạn phục vụ là 5 năm. Có thể thấy hình thức này giống với nghĩa vụ quân sự của phương Tây chứ không đi lính triền miên tới mức “chàng Siêu tóc đã điểm sương mới về” như Chinh phụ ngâm khúc viết nữa. Tăng lương cho lính. – Tập bắn súng, dùng các loại súng hiện đại như đại bác, quá sơn(95), thần công, điểu thương… thay cho võ nghệ, đao thương, côn dài, cung kiếm – Luyện thuốc súng: bỏ hết thuốc súng cũ, luyện lại thuốc mới làm sao cho thuốc súng mãnh liệt, nhạy nổ.
2) Cần có thủy binh mạnh cứu viện: “Nay xin cử người có tài giao thiệp, mang quốc thư, đáp tàu buôn sang Hạ Châu cầu viện với quốc vương nước Anh Cát Lợi, trình bày cặn kẽ binh thuyền nước Phú Lãng Sa vô cớ xâm lăng, chiếm đoạt thành trì, rat tay ngang ngược sát hại dân chúng hết sức tàn bạo, xin quốc vương nước Anh mau cho binh thuyền đánh dẹp Tây” (tr.98) Chủ trương này khai thác mâu thuẫn giữa các nước đế quốc để mượn tay nước này trừ nước kia.
2.2. Sách lược chống Pháp, Đặng Đức Tuấn còn trình bày trong điều trần 3: Tự Đức thập tứ niên thập nhất nguyệt nhị thập nhất nhật (Điều trần năm Tự Đức thứ 14 ngày 21 tháng 11 – 22/12/1861). Trong điều trần này Đặng Đức
_______________
95 Năm 1867 Đặng Huy Trứ được triều đình cử đi Quảng Châu mua 239 khẩu quá sơn pháo
_______________
Tuấn chuyên bàn về phương sách đấu tranh ngoại giao với Pháp mà ông gọi là “Công tâm” (攻心: đánh vào lòng người). Ông không tin lắm vào hiệu quả của phương sách này, nên đã nói trước, nếu phương sách này không hiệu quả thì sẽ dùng để giải pháp quân sự. Ông viết: “Một khoản thỉnh cầu này là trước khi quyết chiến với giặc Tây, xin đem lý lẽ cật vấn lũ mọi Tây. Nếu bọn kia nhận ra lẽ phải mà bãi binh thì có thể không nhọc đến binh đao. Ấy gọi là cách đánh vào lòng người hay nhất. Nếu bọn kia không chịu nhận lẽ phải mà bãi binh, sau đó mới dùng đến binh lính khác quyết chiến với chúng.” (tr.115). Lý lẽ để đấu tranh ngoại giao theo Đặng Đức Tuấn có 5 điều sau: 1) Nước Tây nói đến nước Nam ngoại giao hòa hiếu để tiện việc buôn bán sao lại ngang ngược bắn phá nđồn lũy, chiếm cứ thành trì? 2) Nước Tây vốn xưng là nước Thiên Chúa giáo. Đạo Da Tô(96) khuyên người ta phải lấy ôn hòa khiêm nhường làm đầu, hành động phải lấy nhẫn nhục làm trước. Sao nước Tây sang nước Nam vô cớ gây cảnh chiến tranh, tàn sát nhân mạng, gây mối thù hận. Như vậy là trái với lời dạy khiêm hòa nhẫn nhục của đạo.
3) Xuất quân không có chính nghĩa, giết oan người vô tội, xâm lược đất người, chiếm đoạt của người, cướp bắt phụ nữ. Như thế là phạm vào những điều răn lớn của đạo. Như vậy có phải thật tâm vì đạo không? Sao có thể yêu cầu người ta bỏ lệnh cấm đạo được.
___________
96 Trong sách của Nguyễn Văn Thoa viết là Da Tô, nhiều sách và từ điển viết là Gia Tô. Chúng tôi xét thấy chữ Hán viết là 耶蘇,耶穌, vì vậy phiên là Da Tô như sách của Nguyễn Văn Thoa chính xác hơn
_____________
4) Tại sao lại đem uy quyền, gươm đao, tàu thuyền súng đạn ra bắt ép bỏ lệnh cấm đạo. Đạo Da Tô chỉ nói đến đức hạnh, trung với vua hiếu với cha mẹ. Như vậy nước Tây hành động theo đạo lý nào?
5) Nước Tây đòi hỏi đất đai, vàng bạc để bồi hoàn chiến phí rồi mới chịu giảng hòa. Thế hàng nghìn nhân mạng người nước Nam, của cải của quốc gia bị mất, nhà cửa tài sản của giáo dân bị hủy hoại thì ai bồi thường? “Nếu chỉ vì đất đai vàng bạc mà đến thì chỉ là lũ tham lam của cải lợi lộc mà thôi”. Sao có thể lấy cớ vì đạo Da Tô mà khiến người giáo dân nước Nam phải chịu oan khiên oán hận không thể giãi bày.
2.3. Sách lược chống Tây còn được Đặng Đức Tuấn trình bày trong điều trần 5: Vị cung thừa Binh bộ cứu vấn tặc tình (Kính vâng chất vấn của bộ Binh về tình hình giặc, viết năm Tự Đức 14, ngày 5 tháng Chạp – 4/1/1862). Trong điều trần này Đặng Đức Tuấn trình bày phương sách: tổ chức các đội quân giáo dân Da Tô để đánh Pháp, kết hợp với biện pháp ngoại giao: dùng báo chí, truyền thông quốc tế để tố cáo hành động phi nghĩa của quân Pháp. Ông cho rằng: Nước Pháp sang đây lấy danh nghĩa đề nghị thông thương và bỏ cấm đạo, nhưng “chẳng qua mượn hai cớ này để che đậy sự chê cười phê phán sau lưng của các nước bốn phương mà thôi.” (tr.125). Ông đề nghị tổ chức những đội quân của những người Thiên Chúa giáo đánh Pháp, ở đồn treo cờ Da Tô, viết bằng chữ Tây “Người theo đạo phương Nam vâng mệnh triều đình, tình nguyện quyết chiến cùng quân Pháp”. Quân Pháp thấy vậy không dám đánh, nếu có đánh thì bộc lộ sự phi nghĩa của họ. Từ đó ông đề nghị một phương pháp rất mới, rất hiện đại: Đưa Pháp ra công luận để cho các nước phương Tây biết hành vi sai trái của chúng. Ông viết: “Ngoài biển ở Nam Kỳ sẵn có thương thuyền của các nước Tây phương qua lại như thương thuyền của nước Ý, Anh, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha. Người các nước ấy thấy quân lính nước ta có cờ lính Da Tô, chắc chắn sẽ đăng báo bán gấp, loan truyền tin tức cho các nước khắp bốn phương, để họ chê cười phê phán nước Pháp hoành hành vô đạo.” (tr.125) Đặng Đức Tuấn cẩn thận đưa ra khả năng: có người sẽ nghĩ việc tổ chức các đội quân Thiên Chúa giáo có treo đạo có thể là một kế tạo “hiệu lệnh để làm nội ứng”. Ông bác bỏ vì cho rằng quân Pháp rất mạnh, muốn đi đến đâu thì đi, cần gì phải có nội gián làm nội ứng, nhà Thanh to lớn như vậy còn không đương đầu được nữa là nhỏ yếu như nước ta. Là kẻ sĩ áo vải, là một linh mục Thiên Chúa giáo tự mình dâng điều trần, Đặng Đức Tuấn mong triều đình tin tưởng tấm lòng thành của mình: “Kẻ ngu muội này trước sau đã điều trần các khoản bình định giặc Tây, chẳng phải vì tham sống sợ chết, lại chẳng phải vì muốn tìm dịp may mắn tiến thân, chỉ lo nhiệt tâm vì đại nghĩa, thù ghét thói tàn bạo của giặc Tây, muốn tỏ bày mối căm phẫn tột độ mà thôi.” (tr.127)

(Bản Điều Trần và bài thơ Ngự đề của vua Tự Đức ban cho linh mục Gioan Kim Đắng Đức Tuấn-ảnh của báo Công giáo& Dân tộc)
Có thể nói tư tưởng canh tân của Đặng Đức Tuấn là một bước đột phá trong tư tưởng yêu nước chống Pháp Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX.
- Tư tưởng “kính chúa yêu nước” – một phương diện khác của tư tưởng canh tân Là một linh mục xuất thân từ gia đình đạo gốc ở Bình Định, được đào tạo bài bản ở Đại chủng viện Penang, Đặng Đức Tuấn được phân về coi mấy xứ đạo ở Quảng Ngãi, Bình Định. Giữa lúc quân Pháp xâm lược, tình hình cấm đạo hết sức căng thẳng. Các linh mục nước ngoài bị bắt đều bị tử hình lập tức, các linh mục người Việt bị bắt thì bị tra tấn, giam cầm, giáo dân bị bắt phải bỏ đạo bằng các hình thức “khóa quá” (bước qua thánh giá) và “phân tháp” (có khi gọi “phân sáp”: chia nhỏ người Công giáo cho ở vào các làng lương). Trong chỉ dụ của triều đình vào tháng 6 năm 1861 có ghi rõ: “Phàm tất cả dữu dân(97) nam phụ lão ấu, bất kể đã xuất giáo hay chưa xuất giáo đều thích chữ vào mặt đem phân tháp vào các xã thôn không theo đạo, kiểm thúc chặt chẽ. Còn những tên đầu mục kiệt hiệt thì vẫn nghiêm giam như cũ. Nếu Tây đến thì đem bọn này ra giết hết. Nếu nơi nào còn chứa chấp kẻ gian để đến nỗi xảy ra chuyện thì cứ theo quân pháp trị tội” (Quốc sử quán triều Nguyễn, 1974, tr.327). Cảnh cưỡng bức giáo dân phải bỏ đạo cũng được Đặng Đức Tuấn ghi lại trong Thuật tích việc nước Nam: Thảm thương con trẻ đàn bà Phen này mới thấy huyện nha dường nào Quan quân roi vọt hùng hào Hết hồn hết phách hết tao hết mày Bẩm ông bẩm cậu bẩm thầy Quen mặt rồi cũng xầm xầy (chai lì) như không Nhiều người khá cứng bề trong Bẩm quan nói lẽ chưa cùng lời thưa Roi to roi nhỏ đánh bừa Chẳng kiêng lưng cổ chẳng chừa đầu đuôi Kẻ thời bóp cổ kéo lôi Kéo qua thập giá cho rồi phui pha Kẻ thời vồ nọc giăng ra Đánh thét vừa mắng kêu la vang trời. (Nguyễn Đình Đầu, 2012, tr.46)
97 Dữu dân: từ miệt thị chỉ dân theo đạo Thiên Chúa
______________
Trong 4 năm chiến tranh kể từ khi thực dân Pháp xâm lược nước Đại Nam cho đến khi ký hòa ước Nhâm Tuất (6/1862), theo tổng kết của Louvet có đến “150 linh mục người Việt, nghĩa là một phần ba hàng giáo sĩ của Việt Nam, đã đổ máu vì Đức Giêsu Kitô; 80 tu viện bị triệt phá với 2000 nữ tu người Việt của chúng ta bị phân tán và khoảng 100 đã hiến mạng sống vì đức tin; tất cả các chủng viện đều bị đóng cửa và phần lớn chủng sinh và thầy giảng bị bắt; các câu trùm của tất cả các họ đạo, khoảng 10.000 trên cả nước bị giam giữ và hơn một nửa đã chết vì đức tin” (dẫn theo Trương Bá Cần, 2008, tr.233)
Rõ ràng đã có một sự hiểu lầm tai hại: một bên thì muốn giữ niềm tin Thiên Chúa của mình, sống yên ổn thiện lương với một bên nghi ngờ bên kia để bảo vệ đời sống tôn giáo của mình đã dựa vào thế lực ngoại bang đồng đạo “ám thông” tin tức, dẫn đường cho giặc vào xâm lược; một bên có sức mạnh tinh thần một bên có quyền lực của cả một bộ máy phong kiến. Với tư cách là linh mục, Đặng Đức Tuấn có trách nhiệm trình bày cho triều đình hiểu về đạo Thiên Chúa, hiểu về giáo dân mà thay đổi cách ứng phó với giáo dân. Việc thay đổi ấy vừa là để cứu đồng bào Thiên Chúa giáo, đồng thời cũng chính để cứu nước. Nếu mâu thuẫn triều đình và Thiên Chúa giáo không được giải quyết thì nguy cơ mất nước là rất rõ. Vì vậy đề nghị thay đổi thái độ của triều đình cũng chính là một phần của tư tưởng canh tân – tư tưởng canh tân về tôn giáo, từ vị trí của một người linh mục yêu nước.
Tư tưởng canh tân về tôn giáo theo hướng “kính Chúa yêu nước” được Đặng Đức Tuấn trình bày trong các điều trần 2, 4, 6. 3.1.
Điều trần 2: Tấu vị đương cuộc tặc tình chế thắng duyên do cung triệp điều trần sự (Điều trần kính tâu lý do chiến thắng xét theo thế giặc hiện nay của đạo trưởng Đặng Đức Tuấn ở thôn Quy Thuận, xã An Sơn, huyện Bồng Sơn, tỉnh Bình Định). Trong bản điều trần này Đặng Đức Tuấn bắt đầu từ một nghi vấn lớn nhất của triều đình là mỗi khi quân triều đình đóng quân ở đâu thì đều bị giáo dân “ám thông” tin tức, chỉ điểm cho Pháp nên quân triều đình bị đánh bại, từ đó dẫn đến chính sách giam cầm tất cả giáo dân. Đặng Đức Tuấn cho rằng quân Pháp mạnh, quân ta yếu nên ta thua, chứ không phải lý do ấy, vì thế việc giam cầm giáo dân là một biện pháp sai lầm: “Nhà đương quyền không nghĩ quân ta yếu, quân địch mạnh, thế khó chống đỡ, tất phải thất bại, lại đổ lỗi cho người theo đạo Da Tô cùng làm nội ứng giúp lũ giặc kia biết rõ quân tình hư thật, địa thế hiểm trở, khiến cho lũ giặc dễ bề chiếm đoạt. Một người nói ra, mười người theo đó thổi phồng, đến nỗi tất cả giáo dân đều bị nhốt vào ngục tù oan ức.” (tr.104) Đặng Đức Tuấn cho rằng: người Công giáo từng có công giúp vua Gia Long lập nên nhà Nguyễn, nên yêu nước trung vua là một truyền thống có từ lâu của người Công giáo, vì thế vua Gia Long tạo điều kiện cho Thiên Chúa giáo phát triển tốt. Chỉ đến thời vua Minh Mạng mới có người Công giáo tham gia đảng phản nghịch (loạn Lê Văn Khôi), nên mới bị cấm đoán. Đặng Đức Tuấn đề nghị nhà vua “mở lượng nhân từ chở che của trời đất, kế thừa đức hy sinh của các đấng tiên vương” mà phóng thích tất cả giáo dân cho họ về nhà. Ông đề xuất một phương án mạnh dạn: cho người Công giáo gia nhập quân đội đánh Pháp lập công giúp nước, vừa giúp họ thoát khỏi cảnh giam cầm, vừa là cách xóa đi sự nghi ngờ về lòng trung thành của giáo dân đối với vua với nước: “Xin ra lịnh cho người có đạo giúp nước lập công. Ai phản nghịch sẽ bị giết cả họ. Kẻ có đạo thì dù thịt nát xương tan cũng cố báo đền ơn nước, quyết chẳng hai lòng. Kẻ có tài năng, cống hiến tài năng; kẻ có sức lực, cống hiến sức lực, ắt sẽ gắng gỏi bình định được giặc mới thôi.” (tr.108) 3.2.
Điều trần 4: Tự Đức thập tứ niên thập nhất nguyệt nhị thập nhất nhật (Điều trần năm Tự Đức thứ 14 ngày 21 tháng 11 – 22/12/1861) Trong bản điều trần này Đặng Đức Tuấn tiếp tục ý tưởng đã nêu trong điều trần số 2 về việc cho thanh niên Công giáo gia nhập quân đội đánh Pháp, thậm chí ông đề nghị cho họ làm lính tiên phong: “Nếu có giao tranh với giặc Tây, xin lấy lính theo đạo Da Tô này làm tiên phong, vì nước gắng sức quyết chiến, để chứng tỏ họ có ý kính Chúa trung quân (dĩ minh kỳ hữu kính Chúa trung quân chi niệm), để làm sáng tỏ họ không có lòng thông mưu với giặc.” (tr.119) Bên cạnh đó ông đề nghị thả hết những giáo dân già yếu, phụ nữ, trẻ em cho về nhà sinh sống, thoát khỏi cảnh đói rét. Ý tưởng về người Công giáo luôn kính Chúa trung quân được ông tô đậm trong điều trần này. Ông nói triều đình không nên nghi ngờ giáo dân cầu viện quân Pháp, hợp sức ngầm thông tin tức cho Pháp, vì nếu vậy thì khi Pháp mới sang, giáo dân chưa bị triều đình giam cầm, họ đã bỏ đất vua chạy theo giặc hết cả rồi. Ông cho rằng người Công giáo cũng như mọi người dân nước Nam khác “Chẳng những họ không chịu theo giặc Tây mà còn oán hận giặc Tây ngang ngược đến tận xương tủy!” (tr.120) Bọn theo Tây chỉ là “bọn du thủ du thực, côn đồ phóng đãng, nửa bạc nửa đồng, chnag83 biết mùi đạo, không có danh thật” (tr.120). Còn những người thờ Thiên Chúa chân chính thì “đều trung thành với vua, thảo kính với cha mẹ, an phận giữ phé làm dân, vạn phần chẳng có lẽ nào trở mặt để chạy theo giặc.” (tr.120
3.3. Điều trần 6: Tự Đức thập tứ niên thập nhị nguyệt sơ bát nhật (Điều trần năm Tự Đức 14, ngày 8 tháng Chạp – 7/1/1862). Điều trần này tập trung trả lời 3 câu hỏi của Thượng thư bộ Binh:
Câu 1: “Giáo lý đạo Da Tô dạy thế nào, khiến cho đa số người trong đạo ấy không sợ bị tử hình, can đảm chịu chết?”
Câu 2: “Lâu nay thường nghe người ta nói người theo đạo Da Tô học đạo của Tây phương, chắc chắn đồng lòng cùng người Tây phương. Nay giặc Tây sang xâm lăng bờ cõi, triều đình nghi ngờ đem giam cầm canh giữ nghiêm nhặt để phòng ngừa làm nội ứng. Việc này liệu có oan ức gì không?”
Câu 3: “Nếu triều đình tha tội cho người có đạo, chấp thuận cho họ làm lính chiêu mộ, tình nguyện chiến đấu với giặc Tây, vì nước dốc lòng trung, con số ước được bao nhiêu? Nay thử chiêu mộ ba tỉnh Quảng Bình, Quảng Ngãi, Bình Định được bao nhiêu thì các hạt khác cũng có thể suy ra đại khái?”
Trả lời câu hỏi 1, Đặng Đức Tuấn dẫn 5 điều răn phải tin và 10 điều răn phải giữ trong giáo lý đạo Thiên Chúa, trong đó nhấn mạnh đức tin vào Thiên Chúa, linh hồn bất diệt và ngày phán xử cuối cùng, cùng những răn giới về đức hạnh đã khiến cho giáo dân tin vào những điều tốt đẹp, dám đương đầu với nghịch cảnh, kể cả cái chết.
Trả lời cho câu hỏi 2, Đặng Đức Tuấn gần như nhắc lại các ý tưởng ông đã trình bày trong các điều trần trước về Thiên Chúa giáo. Ông nhấn mạnh: Đạo Thiên Chúa và giặc Pháp là hai vấn đề khác nhau, giặc Pháp chỉ dùng chuyện cấm đạo làm cớ để xâm lược nước ta mà thôi: “Đạo người trong nước ta học là đạo do đấng tạo hóa chủ tể lập ra, chứ không phải đạo của nước Phú Lãng Sa. Nay bọn giặc này đến xâm lược nước ta, bèn mượn cớ xin bỏ lệnh cấm đạo làm danh nghĩa. Chẳng qua mượn cớ ấy để lừa dối dư luận của mọi người mà thôi.” Vì vậy giáo dân bị nghi ngờ, bị giam cầm là điều oan ức kêu trời không thấu.
Với câu hỏi 3, Đặng Đức Tuấn cũng nhắc lại những ý tưởng đã trình bày trong các điều trần trước, ông nhấn mạnh: “người có thực tâm thờ phượng đạo Thiên Chúa, chắc sẽ dốc lòng trung vì nước (vị quốc hiệu trung)”, ước tính số người ấy có thể làm lính chiêu mộ có thể khoảng 3000 người trong cả nước. Biện bạch về nỗi oan ức bị nghi ngờ của người Công giáo; khẳng định lòng kính Chúa trung quân yêu nước là phẩm chất tốt đẹp của người Công giáo bình thường, lương thiện; đề nghị chấm dứt giam cầm, bách hại đạo Công giáo là cách đặt vấn đề mới mẻ với một triều đình độc đoán, hẹp hòi, áp dụng chính sách thù địch với giáo dân đương thời. Những điều trần về tự do tôn giáo của Đặng Đức Tuấn thực sự là một phương diện quan trọng của tư tưởng canh tân chống Pháp.
- Tư tưởng canh tân của Đặng Đức Tuấn trong phong trào canh tân nửa cuối thế kỷ XIX
4.1. Đặng Đức Tuấn (1806-1874) sinh ra vào đầu thế kỷ XIX, nhỏ hơn Phan Thanh Giản (1796–1867) 10 tuổi, lớn hơn Phạm Phú Thứ (1821-1882), Đặng Huy Trứ (1825- 1874) khoảng 15-20 tuổi, lớn hơn Nguyễn Trường Tộ (1830-1871) 24 tuổi, hơn Nguyễn Lộ Trạch (1853-1898) 47 tuổi. Ông viết điều trần đầu tiên vào năm 1861, trước bản điều trần đầu tiên của Nguyễn Trường Tộ (Thiên hạ đại thế luận, tháng 3/1863) 2 năm. Như vậy trong phong trào canh tân nửa cuối thế kỷ XIX thì Đặng Đức Tuấn là người viết điều trần sớm nhất, tức là người mở đầu cho phong trào canh tân ấy.
4.2. Phong trào canh tân nửa cuối thế kỷ XIX có hai dòng:
– Dòng kẻ sĩ áo vải, tức là những người không đi theo con đường khoa cử, không đỗ đạt, không chức vụ, nhưng hiểu biết tình hình nước Pháp và các đế quốc phương Tây, sự yếu kém của đất nước mình, bức xúc mà viết điều trần canh tân đất nước để chống Pháp. Đó là: Đặng Đức Tuấn (1806-1874), Nguyễn Trường Tộ (1830-1871), Nguyễn Lộ Trạch (1853-1898), Đinh Văn Điền (?-?)…
– Dòng quan nhân, là những người xuất thân nho học, làm quan cho triều Nguyễn, hoặc đọc tân thư, ủng hộ tư tưởng canh tân, hoặc do công vụ mà đi ra nước ngoài, hiểu biết về tình hình phương Tây, thấy được các nước trong khu vực đang tiến lên nhanh chóng mà đề nghị triều đình duy tân. Dòng này bao gồm: Phan Thanh Giản (1796– 1867), Trần Tiễn Thành (1813-1883), Phạm Phú Thứ (1821-1882), Trần Đình Túc (1818-1899), Đặng Huy Trứ (1825-1874), Nguyễn Thông (1827-1884), Nguyễn Tư Giản (1823-1890), Nguyễn Hiệp (?-?), Bùi Viện (1839-1878), Phan Liêm (1833-1896), Lê Đỉnh (1847-1920)…
Dòng kẻ sĩ áo vải hiểu thông nho học và Tây học, đa số xuất thân từ nhà thờ Thiên Chúa giáo, chỉ có Nguyễn Lộ Trạch là nho sĩ thuần túy, nhưng chịu ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng của Nguyễn Trường Tộ. Dòng kẻ sĩ áo vải thông qua con đường nhà thờ mà tiếp thu tri thức khoa học phương Tây, đi nước ngoài nhiều, họ mở ra truyền thống Kính Chúa trung quân ái quốc của người Công giáo Việt Nam. Đặng Đức Tuấn nằm trong số đó.
4.3. Trong điều trần đầu tiên Đặng Đức Tuấn đã trình bày tình hình thế giới năm châu, vì bấy giờ từ vua Tự Đức đến các quan lại cao cấp trong Cơ mật viện đều gần như chưa có hiểu biết gì về thế giới. Ông viết: “Bọn mọi biển vốn hết sức hung hăng, quân sĩ hết sức tinh nhuệ, bọn lính hết sức giỏi nghề bắn súng, thuốc súng của chúng hết sức mãnh liệt. Đánh thủy đánh bộ đều giỏi giang, tàu chở lính, tàu chạy máy, chẳng ai cản nổi! Sở dĩ bọn Tây hoành hành khắp thiên hạ, đến đâu đều chiến thắng, cũng chỉ nhờ vào sở trường này. Ngay các nước bên Tây như Á Ba Lị Á (Arabia?), An Giê Ri (Algeria), A Mê Ri Ca (America); bên Đông như Trung Quốc, Triều Tiên, Xiêm La, Nhật Bản, bọn giặc ấy đến đâu cũng gây mối họa chiến tranh, chiếm thành giữ đất.” (tr.95) Thượng thư bộ Hình Phan Thanh Giản, Thượng thư bộ Binh Lâm Duy Hiệp khi hỏi chuyện Đặng Đức Tuấn tỏ ra rất mù mờ về tình hình Tây dương. Sau này Nguyễn Trường Tộ trình bày kỹ càng về tình hình thế giới trong Thiên hạ đại thế luận 1863, Nguyễn Lộ Trạch tiên đoán xu thế các nước trên thế giới trong bài đại luận cùng tên năm 1892, cả hai đều là những người tiếp nối Đặng Đức Tuấn nhằm khai thông hiểu biết cho triều đình (trường hợp Nguyễn Trường Tộ) hay thế hệ nho sĩ trẻ tương lai (trường hợp Nguyễn Lộ Trạch).
4.4. Đặng Đức Tuấn với vị trí là một linh mục, ông hết sức đau xót về tình cảnh người Công giáo bị nghi ngờ, bị bách hại. Điều này đã khiến giáo dân phải chịu cảnh lầm than, khổ cực, thậm chí chết chóc. Vô hình chung chính sách ấy đã đẩy người Công giáo về phía kẻ thù, phá hoại nghiêm trọng khối đoàn kết toàn dân – điều tối cần thiết để dân tộc có đủ sức mạnh chống giặc ngoại xâm. Trong các điều trần số 2, 4, 6 Đặng Đức Tuấn nhiều lần thiết tha đề nghị triều đình thay đổi chính sách với giáo dân, chấm dứt chính sách “phân sáp”, “bước qua”, thích chữ vào mặt, ông đề nghị làm ngược lại: cho giáo dân tham gia quân đội để lập công giúp vua giúp nước. Các đề nghị của ông đã được vua Tự Đức và đìnhthần chấp nhận một phần, nhưng vẫn không ngăn cản được phong trào “bình Tây sát tả” rất cực đoan, tàn nhẫn, do các quan lại và thân sĩ địa phương thực hiện. Sau đó một hai năm, Nguyễn Trường Tộ viết điều trần Giáo môn luận (1863) cũng là tiếp nối con đường của Đặng Đức Tuấn, con đường Kính chúa trung quân yêu nước của người Công giáo.
4.5. Chủ trương canh tân chống Pháp của Đặng Đức Tuấn có ba điểm cơ bản: – Hòa để có thời gian canh tân đất nước, cải cách lại quân đội – Tổ chức lại quân đội, hiện đại hóa vũ khí – Cầu viện nước ngoài để kiềm chế Pháp. Trong thực tế triều đình đã chấp nhận một phần: chuyển từ chủ chiến sang chủ hòa, triều đình cũng đã dè dặt thử các biện pháp ngoại giao với Anh, Đức, Mỹ. Còn Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch trong tất cả các bản điều trần cũng đề nghị hòa để có cơ hội canh tân đất nước và hiện đại hóa quân đội. Nguyễn Lộ Trạch nói: “Đại thế ngày nay chỉ có hai cách tự trị và cầu viện mà thôi (…). Ngoài chủ trương “tự trị” ra, nếu bỏ chủ trương “cầu viện” thì không còn có kế sách nào nữa.” (Mai Cao Chương & Đoàn Lê Giang, 2022, tr.161) Cầu viện nước ngoài là con dao hai lưỡi, rất nguy hiểm, nhưng nó vẫn có thể thực hiện được nếu triều đình thực sự có hiểu biết, khôn khéo. Nhật Bản, Xiêm La là những quốc gia đã thực hiện thành công. Dù không viết sâu, viết kỹ như Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch, nhưng Đặng Đức Tuấn với các điều trần của mình đã là người đi tiên phong mở đường cho tư tưởng canh tân này.
4.6. Một đóng góp quan trọng không thể không nói đến đó là chủ trương ký hòa ước với Pháp nhưng không được cắtđất. Chủ trương này không có dịp trình bày trong các điều trần, nhưng Đặng Đức Tuấn đã trực tiếp nói với Phan Thanh Giản, Lâm Duy Hiệp khi hai ông vào hòa đàm với Pháp. Trong Thuật tích việc nước Nam Đặng Đức Tuấn đã ghi rõ: Xin bồi ngũ bách vạn nguyên Xin giao sáu tỉnh thời yên một đàng. Phan, Lâm đòi Tuấn hỏi han: “Tây xin nhiều quá Tuấn bàn làm sao?” Tuấn rằng: “Ông lớn lượng cao, Đòi bồi thì chịu đừng giao tỉnh thành Ý tôi thời vậy đã đành Mặc lượng quan lớn quyền hành chủ trương.” (Nguyễn Đình Đầu, 2012, tr.82) Chủ trương dứt khoát: bồi thường chiến phí thì dù cao cũng phải chịu, nhưng không được cắt đất cho giặc, vì nếu cắt thì sẽ không có cơ hội đòi lại được nữa. Quả là như thế, sau này phái đoàn Phan Thanh Giản đi Pháp năm 1864 để thương nghị xin chuộc ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ, sau đó ý định này trở đi trở lại nhiều lần, nhưng quân Pháp không chịu trả, ngược lại từ ba tỉnh có được, chúng mở rộng xâm lược như tằm ăn dâu, dần dân nuốt trọn cả nước như mọi người đều biết. Điều tiên kiến hết sức sáng suốt của Đặng Đức Tuấn ấy đã không được các quan đại thần triều Nguyễn nghe theo.
Kết luận
Chúng tôi dùng đánh giá của nhà yêu nước lớn đầu thế kỷ XX Phan Bội Châu về Đặng Đức Tuấn thay cho kết luận của mình. Trong sách Việt Nam quốc sử khảo, mục “Thời đại từ dã man đến khai hóa”, Phan Bội Châu viết:
“Những năm cuối thời Tự Đức bản triều, tân học chưa vào, đường biển chưa mở, nhưng đã có kẻ bàn về đại thế của thiên hạ, nói nên kết giao với Anh, Đức, không nên cứ ỷ lại vào Bắc triều; đã có người xin cử người xuất dương học binh pháp của người Tây Âu, xin mở thương cảng thông thương với các nước, xin cử người học học thuật Tây Âu, như: Thừa Thiên có Nguyễn Lộ Trạch, Đặng Huy Trứ; Quảng Ngãi có Nguyễn Đức Thuấn; Nghệ An có Nguyễn Trường Tộ. Họ chính là những người đã trồng cái mầm khai hóa trước tiên” (Phan Bội Châu, 1982, tr.214-215) Trong lịch sử canh tân Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX không có ai tên là Nguyễn Đức Thuấn, vì vậy Trương Bá Cần cho rằng Nguyễn Đức Thuấn đấy chính là Đặng Đức Tuấn(98) Đánh giá của Phan Bội Châu về Đặng Đức Tuấn như thế là rất xác đáng, thể hiện con mắt tinh đời của một nhà yêu nước cách mạng, một nhà sử học uyên thâm, tiến bộ.
____________
Chú thích và tài liệu tham khảo
- Mai Cao Chương, Đoàn Lê Giang (2022), Nguyễn Lộ Trạch di văn – nghiên cứu và khảo dịch, NXB.Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2022, tr.161
- Nguyễn Đình Đầu (2012), Tiểu sử cha Khâm Đặng Đức Tuấn, thông ngôn sứ bộ Phan Thanh Giản năm 1862, NXB.Tôn giáo, 2012
- Nguyễn Văn Thoa (2017), Cuộc đời và tác phẩm của linh mục Đặng Đức Tuấn, NXB.Tổng hợp TP.HCM 98 “Những năm cuối thời Tự Đức (…) đã có người xin cử người xuất dương học binh pháp của người Tây Âu (…) Thừa Thiên có Nguyễn Lộ Trạch, Đặng Huy Trứ; Quảng Ngãi có Nguyễn Đức Thuấn (có lẽ là linh mục Đặng Đức Tuấn?); Nghệ An có Nguyễn Trường Tộ. Họ chính là những người đã giồng cái mầm khai hóa trước tiên” (Trương Bá Cần, 1988, tr.9)
- Phan Bội Châu (1982), Việt Nam quốc sử khảo, Chương Thâu dịch, trong Những tác phẩm của Phan Bội Châu, tập I: Việt Nam vong quốc sử, Việt Nam quốc sử khảo, NXB.KHXH, Hà Nội
- Quốc sử quán triều Nguyễn (1974), Đại Nam thực lục chính biên, quyển 24, bản dịch của NXB. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1974, tập 29, tr.327
- Trương Bá Cần (1988), Nguyễn Trường Tộ- con người và di thảo NXB.Thành phố Hồ Chí Minh
- Trương Bá Cần (2008), Lịch sử phát triển Công giáo ở Việt Nam, tập II, NXB.Tôn giáo, Hà Nộ
(Nguồn: Tài liệu tham khảo cho tọa đàm ngày 23/9/2023 của TGM Quy Nhơn)