Truyện ngắn: SUỐI NGUỒN | 9. Quà Tặng Ngày Khấn
Truyện ngắn: SUỐI NGUỒN | 9. Quà Tặng Ngày Khấn
Tác giả: Song Nguyễn
Đối với các tu sĩ, quà tặng ngày khấn thường có một ý nghĩa nào đó đánh dấu hành trình dâng hiến của họ, có khi món quà đó còn mang tính đại chúng, chẳng hạn quà tặng ngày khấn của ông bố Su Su trong tác phẩm“một đời dâng hiến”: chính ông bố đã dày công viết tặng con mình tác phẩm để giới thiệu với con gái cưng của mình một mẫu gương sống đời dâng hiến.
Điều quý giá hơn nữa là: ông bố của Su Su cũng đã lặn lội đến tận trại cùi Tuy Hòa để tìm hiểu và chứng kiến các Dì Franciscan đã và đang sống ơn gọi tu trì của mình qua việc phục vụ các bệnh nhân nơi trại cùi này, đặc biệt là cuộc đời của Dì Antôny Nhẫn, một nữ tu vừa trẻ đẹp, vừa tài năng, đảm đang và rất can đảm. Vì hoàn cảnh thời bấy giờ, Dì phải sống một thân một mình với hàng trăm người cùi, đủ mọi lứa tuổi, chăm sóc và lo cho họ tất cả mọi sự, từ cơm nước đến thuốc men và chạy chữa cho họ. Trong khi đó, những người khác, từ thân nhân đến họ hàng của họ đều bỏ rơi và tránh xa họ, để cuối cùng, trước khi trại cùi được hồi sinh thì Dì Antôny đã vĩnh viễn ra đi và phần mộ của Dì vẫn còn ở cuối nhà thờ của trại cùi Tuy Hòa như một chứng tích…
Với câu chuyện cảm động trên đây không chỉ riêng Su Su, người con gái của ông bố trong tác phẩm được khích lệ trong đời sống thánh hiến, mà tác phẩm còn giúp cho nhiều tu sĩ cũng được lôi cuốn để hăng say hơn, dấn thân hơn trong hành trình dâng hiến và đã không ít người đã rơi lệ khi đọc tác phẩm này. Có nữ tu đã thú nhận rằng Dì đã đọc đi đọc lại đến gần thuộc lòng câu chuyện, có Dì đã dùng làm sách thiêng liêng, có Hội Dòng đã dùng để đọc trong giờ cơm chung…
Đối với món quà ngày khấn của tôi sắp giới thiệu với các bạn đây, tuy nó không có tầm ảnh hưởng lớn như món quà của ông bố Su Su, nhưng đối với tôi, nó là một chứng từ của tình thương và sự kiên trì của tôi đã được đền đáp và chắc chắn rằng, tôi sẽ không bao giờ quên được. Tôi tin rằng có nhiều món quà ngày khấn cũng có ý nghĩa giống tôi, hoặc ít ra, đây cũng là dịp để các bạn chia sẻ với tôi món quà ngày khấn trọn đời.
Tôi xin nói ngay với bạn rằng, trong họ hàng tôi, bên họ ngoại, tất cả đều theo Đạo Ông Bà. Đạo Ông Bà là một “Tín ngưỡng không Tôn giáo” hay nói cách khác: “Đạo Ông Bà tiêu biểu cho tinh thần tôn giáo của dân tộc, một thứ tôn giáo không kinh kệ; không giáo luật, giáo quy; không hệ thống tổ chức; không truyền giảng và cũng không nhất thiết tuân theo những lễ nghi nhất định”. Đạo Ông Bà thể hiện nơi tấm lòng, nơi tâm khảm con người, hơn những lễ nghi bên ngoài. Vì thế, có thể nói rằng, bên ngoại tôi rất trọng chữ hiếu.
Còn họ nội tôi là một dòng họ đạo gốc chân chính và lâu đời. Vì thế, bên nội tôi cũng đã có nhiều linh mục và tu sĩ xuất thân từ đó. Ngoài ra, họ nội tôi còn có nhiều người tham gia vào Ban hành giáo trong Giáo xứ.
Ba má tôi gặp nhau trong một hoàn cảnh rất đặc biệt: hồi đó, ba tôi là một giáo viên trường Huyện, đẹp trai, vui tính và rất hiền lành, dễ mến. Vì là giáo viên dạy giỏi và là hiệu phó, phải tiếp xúc với nhiều phụ huynh nên ba tôi được nhiều người biết đến. Tiếng lành đồn xa, nhiều bậc cha mẹ muốn gả con gái cho ba tôi, một thầy giáo trẻ trung và lịch thiệp, nhưng ba tôi lúc này chỉ nghĩ đến sự nghiệp mà thôi.
Một hôm ba tôi có việc phải đến nhà ngoại tôi để bàn vấn đề nhà trường với cậu tôi, lúc bấy giờ cũng là một thầy giáo. Thấy cách cư xử của thầy giáo trẻ, ngoại tôi đã chấm ngay và thầm mong ba tôi trở thành con rể của gia đình, dù chưa hỏi ý của má tôi.
Má tôi là con gái út trong gia đình chỉ có ba người con, hai gái và một trai. Má tôi rất đẹp lại duyên dáng, nên nhiều chàng trai trong làng cũng dòm ngó và có ý dặm hỏi, nhưng ông bà ngoại tôi đều từ chối, còn má tôi thì con nhà gia giáo, đạo hạnh nên không được giao tiếp với người lạ.
Mặc dù sau này qua tiếp xúc, ngoại tôi biết ba tôi là người đạo Công giáo, và lại là thầy tu xuất, gia đình không khá giả, chỉ ở mức trung bình. Ba tôi là con trai duy nhất trong gia đình có ba người con. Nhưng ngoại tôi và cả họ hàng, nhất là má tôi ngày càng có thiện cảm với ba tôi. Vì thế, ba tôi bỗng dưng duyên số mà lấy được người Trời Phật cho và họ hàng bên ngoại tôi cũng đã đồng ý cho má tôi theo đạo ba tôi.
Được của Trời cho, bên ngoại tôi và nhất là má tôi, rất thương ba tôi. Ngoại tôi đã cho ba má tôi nhà cửa và cho ở riêng. Nhiều người trong làng má tôi, hầu hết không có đạo, họ phát ghen với ba tôi, họ cho rằng ba tôi bỏ bùa má tôi. Điều đó thật oan uổng cho ba tôi, vì ba tôi rất hiền lành và ngoan đạo. Nhưng phải nói rằng, đó là sự an bài của Thiên Chúa để có sự hiện diện của tôi trên cõi đời hôm nay.
Ba má tôi ở riêng và sinh được hai anh tôi. Lúc này, tình thương mến của ngoại tôi vẫn không hề giảm sút; khiến cho tiếng đồn thổi của những người trong làng càng lúc càng gia tăng. Lợi dụng cơ hội này, ba má tôi đã xin phép ngoại tôi vào Nam, là quê hương ba tôi, để sinh sống. Lúc đầu, ngoại tôi khăng khăng không chấp nhận, nhưng sau đó, không biết ba tôi đã nói thế nào với ngoại tôi mà ngoại tôi đã đồng ý cho ba má tôi vào Nam, với điều kiện là thỉnh thoảng ba má tôi phải về thăm ngoại tôi. Sau đó, ngoại tôi còn cho ba má tôi một khoản tiền lớn để có thể sinh sống.
Được trở về quê nội, gần nhà thờ, ba tôi bắt đầu tham gia các hoạt động trong Giáo xứ, nào là tham gia vào Ban hành giáo và má tôi cũng tham gia vào các hội đoàn. Nhờ đó, đời sống đạo của gia đình tôi rất tốt đẹp, thành gương mẫu trong Giáo xứ.
Tuy má tôi là người bổn đạo mới, nhưng má tôi lại có lòng sùng kính Đức Mẹ cách đặc biệt. Má tôi thường hay lui tới các Đền đài Đức Mẹ trong Giáo xứ cũng như ngoài Giáo xứ, nhất là Đền Thánh Đức Mẹ La Vang, gần quê hương má tôi. Vì thế, sau khi sinh hai anh tôi, ngoại tôi cảm thấy vui mừng, vì dì và cậu tôi chỉ sinh toàn con gái, đến nỗi nhiều người nói họ hàng ngoại tôi “âm thịnh dương suy”, nhưng ngoại tôi cũng muốn gia đình tôi có con gái cho “vui nhà vui cửa”. Thế là má tôi đã khấn với Đức Mẹ Lang Vang trong chuyến trở về quê ngoại.
Lời cầu khấn của má tôi được nhận lời, má tôi đã sinh ra tôi, một người con gái xinh đẹp như thiên thần, người mừng nhất có thể nói là má tôi và kế đến là bà ngoại tôi. Ngoại tôi kể lại cho tôi nghe rằng:
- Hồi ngoại chọn ba con làm rể là vì lúc bấy giờ có quá nhiều người muốn hỏi má con. Ngoại đã đi xin Quẻ Sâm và thầy nói rằng, người thanh niên nào đến gia đình bà sớm nhất ngày mai thì chọn người ấy. Hôm sau, ba con vì có công việc đột xuất, muốn nhờ cậu con vào trường sớm, nên ba con đã đến nhà ngoại trước…
Ngưng một lát, ngoại tôi nói tiếp:
- Hôm sinh ra con, trước đó, má con đã khấn Đức Mẹ La Vang để sinh con gái và đã được nhận lời. Rồi ngoại tôi kết luận : “Trời linh thật!”
Kể từ hôm đó, ngoại tôi rất có cảm tình với đạo. Điều lôi kéo sự chú ý của ngoại tôi đối với gia đình tôi là từ ba má tôi đến các anh em tôi ai cũng cư xử thật hiền lành và được nhiều người quý mến. Riêng tôi, càng lớn lên, tôi càng được ngoại tôi thương cách đặc biệt. Cho đến khi tôi được mười ba tuổi, ngoại tôi đã xin ba má tôi cho tôi về nhà ngoại ở. Được một năm sau, ba má tôi lại xin tôi về. Thực tình, má tôi không thể sống thiếu tôi. Còn tôi, tôi nhớ ngoại tôi lắm và ước mong sẽ được về thăm ngoại, nơi đã để lại cho tôi nhiều kỷ niệm, tôi chợt nhớ đến bài hát hồi nhỏ má tôi thường hát cho tôi nghe:
Tôi sẽ về, về thăm quê hương ngày xưa
Còn nhớ thương lắm nơi ngoại tôi bắt ốc bắt còng
Ngoại dắt tôi đi qua bờ đê bước nhỏ gập ghềnh
Đời ngoại gian nan, lời ru buồn như khúc dân ca.
Những đêm về, vầng trăng nghiêng nghiêng đầu thôn
Lòng thiết tha quá nhưng giờ đây tôi đã xa rồi
Ngoại nhớ thương con đêm từng đêm thức trắng nằm ngủ
Vì ngoại thương con, con thương ngoại con nhớ muôn đời.
(Về Thăm Quê Ngoại – Hồng Xương Long)
Thế rồi tôi từ giã quê ngoại để trở về gia đình. Ngoại tôi lại xin ba má tôi cho anh Hai tôi về để ngoại tôi đỡ nhớ gia đình tôi. Kể từ đó, anh Hai tôi được ngoại tôi nuôi nấng và cho ăn học cho đến hết cấp 3. Sau khi anh tôi trở về lại gia đình tôi thì ông bà ngoại tôi cũng theo cậu tôi vào trong Nam và ở gần gia đình tôi. Lúc này, tôi là người hạnh phúc nhất vì được ở gần ngoại. Cứ sau giờ đi học là tôi lại đến nhà ngoại tôi để nghe ngoại tôi kể chuyện, để học ngoại tôi nấu ăn và học làm nhiều việc khác nữa.
Bà ngoại tôi đặc biệt thương tôi, không chỉ vì tôi là đứa con “cầu tự”: vừa đẹp, vừa xinh, vừa học giỏi, mà tôi còn biết làm cho bà vui và có lẽ tôi đã nhiễm lây cách biết nhõng nhẽo với bà, biết đấm lưng, bóp trán cho bà mỗi khi bà mỏi mệt, đến nỗi bà phải trêu tôi: “con nhỏ này nó nhõng nhẽo giống mẹ nó hồi nhỏ quá!”. Ngoài ra, tôi còn biết giã trầu cho ngoại tôi. Bà ngoại tôi ăn trầu đã thành nghiện, không kể lúc có khách khứa, người ta cho rằng “miếng trầu là đầu câu chuyện”, bà ngoại tôi còn ăn trầu ngày ba lần sau bữa cơm. Tôi chỉ ngồi xem ngoại tôi giã mấy lần mà tôi đã làm rất thành thạo, khiến bà ngoại tôi phải nói rằng: không ai giã trầu được như tôi. Có lẽ vì vậy mà ngày nào vắng tôi là bà ngoại tôi nhớ và kiếm cớ để gọi tôi lên và khi tôi lên, ngoại tôi đã cho tôi nào là kẹo bánh, trái cây…mà tôi ưa thích.
Có lẽ vì thương tôi mà bà ngoại tôi đặc biệt lo cho gia đình tôi nhiều hơn. Ngoại tôi thường để dành cái này cái kia cho gia đình tôi, còn quần áo thì cả gia đình tôi có khi dư thừa.
Còn một điều như tôi đã nói: bà ngoại tôi rất hiếu kính ông bà; không lễ lạc nào trong năm của ông bà tổ tiên mà ngoại tôi bỏ sót. Cậu tôi sau này cũng lấy vợ Công Giáo và theo đạo, rồi ông ngoại tôi cũng được ba tôi dạy đạo và trở thành Kitô hữu, chỉ còn bà ngoại tôi. Dầu vậy, các dịp cúng vái tổ tiên, cậu tôi cũng đều tổ chức cho bà ngoại tôi vui lòng. Nhưng điều lạ là: bà ngoại tôi thường bào ba tôi làm dấu đọc kinh trước khi họ hàng nội ngoại dùng cơm chung.
Bà ngoại tôi rất tôn trọng đời sống đạo của từng người. Vì vậy, bà tôi rất được nhiều người thương mến và nể phục: kể cả người có đạo cũng như người không có đạo. Dù không theo đạo, bà ngoại tôi cũng luôn kiểm soát và nhắc nhở các cháu phải đi lễ và đi học giáo lý, nhiều khi bà còn mở sách ra khảo bài chúng tôi trước khi đi học giáo lý. Những lúc giáo họ đến đọc kinh định kỳ tại gia đình tôi hay gia đình cậu tôi, bà ngoại tôi đều ân cần tiếp đón khách, sau đó bà tôi làm việc riêng cho đến khi đọc kinh xong, bà tôi lại cám ơn và tiễn khách ra về. Phải nói rằng, bà ngoại tôi rất mến mộ đạo Công Giáo, nhất là từ lúc mà tôi sinh ra tôi do ơn lạ của Đức Mẹ, bà ngoại tôi càng tin Trời Phật hơn, dù ngoại tôi không theo đạo; ngoại tôi quan niệm rằng: “Trời cho ai đạo nào thì người ấy giữ”
Gia đình ngoại tôi đặc biệt khá giả, nên nhiều hội từ thiện trong xã hội cũng như trong Giáo xứ đến xin tiền cứu trợ hoặc giúp đỡ cho người nghèo, ngoại tôi đều rộng tay giúp đỡ. Ngoài ra, vào những dịp Tết hay có Đại lễ nào đó, ngoại tôi thường nhắc cậu tôi đem quà đến biếu ở Chùa và Giáo xứ.
Tôi đã lớn lên trong tình thương yêu của mọi người, đặc biệt là ngoại tôi, ngay cả khi tôi có đứa em gái út, ngoại tôi vẫn thương tôi nhất. Cho đến một ngày kia, ngoại tôi lúc này cũng đã già, lưng bà đã khòm xuống, bà cần tôi giúp đỡ, chăm sóc cho tuổi già. Bà xin ba má tôi cho tôi đến nhà cậu tôi để ở với bà, lúc này tôi đã tốt nghiệp Trung học. Thế rồi vào một buổi chiều, khi đang ngồi xoa bóp chân cho bà ngoại tôi, tôi thỏ thẻ với bà:
- Ngoại à, ngoại cho con đi tu nhé.
Bà ngoại tôi đang ngồi bỗng đứng bật dậy, rồi bà ôm chầm lấy tôi, bà vừa khóc vừa nói:
- Con bỏ ngoại sao?
Tôi nghẹn ngào trả lời:
- Dạ, làm sao con bỏ ngoại được, ngoại là nguồn sống của con mà…
Sau đó, tôi gục đầu vào ngoại cùng khóc. Ngoại tôi nâng tôi lên và hỏi:
- Sao con bỏ ngoại đi tu, ngoại có làm gì cho con buồn không?
- Dạ con đâu có bỏ ngoại, con đi tu con sẽ cầu Chúa cho ngoại thật nhiều mà.
Rồi tôi đưa ra đủ lý do để trấn an và thuyết phục ngoại:
- Ngoại thấy má con đã cầu Chúa qua lời bầu cử của Đức Mẹ và nhờ lời quý Dì khấn để có con ngày hôm nay và từ hôm ngoại ốm đến nay, má con và gia đình con vẫn cầu Chúa cho ngoại nữa.
Sau đó, tôi đưa ra vô số bằng chứng để cho ngoại tôi thấy rằng, lời cầu nguyện của quý Cha, quý Dì rất linh nghiệm, cho nhiều người được ơn lành. Tôi còn kể cho ngoại tôi nghe những phép lạ Đức Mẹ đã làm tại Lộ Đức và ở La Vang, Đức Mẹ đã giúp những người đến kêu cầu Đức Mẹ như thế nào.
Những chứng cớ tôi đưa ra đã làm cho ngoại tôi yên lòng. Ngoại tôi lại hỏi tôi:
- Con đi tu là bỏ ngoại luôn hay vẫn được về thăm ngoại?
Tôi cầm cánh tay khẳng khiu của ngoại tôi, cánh tay đã trải qua nhiều sự lao nhọc thời còn trẻ, tôi nói:
- Con đâu có đi luôn, ngoại ạ, con sẽ về thăm ngoại mà.
Rồi ngoại tôi rút tay ra, nước mắt ngoại rươm rướm, ngoại nói:
- Con nhớ nhé, con đừng quên ngoại nhé.
Rồi tôi kể cho ngoại tôi chương trình tu luyện mà tôi được các Dì trong Giáo xứ cho biết. Bà ngoại tôi thở dài và nói:
- Lâu thế hở con, với thời gian dài như vậy, liệu ngoại còn sống không?
- Con sẽ cầu Chúa cho ngoại sống ít nhất là đến ngày con khấn trọn đời.
Ngoại tôi thắc mắc:
- Khấn trọn đời là sao hả con?
- Dạ có nghĩa là con không về thế gian nữa, vì con thuộc về Chúa và thuộc về Hội Dòng…
Tôi chưa dứt lời thì tôi chợt giật mình vì câu nói “không về thế gian nữa”. Nhưng không, ngoại tôi lại ân cần nói:
- Ừ, con tu thì nhớ tu cho trót, chứ đừng nửa vời, kẻo mang tiếng là “tu hú” đó.
Tôi tươi cười với ngoại:
- Ngoại cứ sống để thấy cháu của ngoại không “tu hú” đâu!
Sau đó,tôi giã từ bà ngoại tôi đi tu và trong suốt thời gian dài của hành trình tu luyện, thỉnh sinh, tập sinh, rồi khấn tạm… tôi vẫn về thăm ngoại tôi. Những lúc đó, ngoại tôi thường thăm hỏi và khích lệ tôi.
Cho đến năm tôi chuẩn bị khấn trọn đời, hai tuần trước khi tôi khấn trọn, tôi được gia đình báo tin là ngoại tôi đã theo ðạo và lúc này, ngoại tôi cũng ðang ðau nặng. Ðúng nhý mong ýớc của ngoại tôi là ðýợc nhìn thấy tôi khấn trọn đời. Nhưng giờ đây, ngoại tôi đang nằm trên giường bệnh, dù vậy, ngoại tôi cũng rất vui vì tin tôi được khấn trọn đời. Đúng hai tuần sau khi tôi khấn trọn đời, bà ngoại tôi đã qua đời…
Bà ngoại tôi đã cho tôi một món quà tuyệt vời trong ngày khấn, thỏa lòng mong đợi của tôi và mọi người trong họ hàng, đó là ngoại tôi đã trở thành Kitô hữu. Hơn nữa, tôi còn thấy rằng, điều làm cho ngoại tôi trở thành Kitô hữu đó cũng chính là dấu chỉ tình thương của Thiên Chúa đã chiều ý tôi xin trong suốt mười mấy năm qua, để hôm nay, trong ngày vui trọng đại nhất của đời tôi, Người đã dành tặng tôi món quà mà tôi ưa thích nhất. Tôi luôn khắc cốt ghi tâm về những điều Chúa đã làm cho tôi.
Lòng nhân hậu và tình thương Chúa
Ấp ủ tôi suốt cả cuộc đời
Và tôi được ở đền Người
Những ngày tháng, những năm dài triền miên.
(Tv 22,6)