Truyện ngắn: CÒN MỘT NIỀM TIN | 8. TARU
Truyện ngắn: CÒN MỘT NIỀM TIN| 8. TARU
Tác giả: Song Nguyễn
Kể từ hơn năm năm qua, hôm nay tôi mới có dịp trở lại thành phố. Lợi dụng cơ hội quý giá này, nhất là lúc đời sống đang gặp nhiều khó khăn, phương tiện đi lại còn hạn chế, nên tôi quyết định không bỏ lỡ dịp thăm viếng những người thân thuộc và bạn bè.
Tôi đã làm được nhiều việc và thăm được nhiều người, nhưng còn Thanh Giang, mặc dầu không phải là bồ ruột của tôi, tôi lại thương nàng nhất vì cuộc đời đặc biệt của nàng. Tôi đã dành cả ngày để đến thăm Thanh Giang.
Theo tôi, Thanh Giang cũng thuộc vào loại “tài mệnh tương đố”: “chữ tài liền với chữ tai một vần”. Tôi biết nàng khi cả hai chúng tôi còn ngang mái tóc thề và gặp nhau dưới mái trường tu viện. Tôi hơn nàng một tuổi. Nàng gọi tôi là chị. Nàng còn yêu cầu tôi một điều “độc tài” nữa, là phải thương nàng nhất.
Thành thực mà nói, dù có nhận nàng là em đi nữa, tôi cũng chẳng mất mát gì, mà còn là một hân hạnh nữa là khác.
Thanh Giang đẹp và hiền như “cục đất”. Nàng thuộc loại đa cảm, dễ vui và cũng mau buồn. Với tôi, nàng còn tỏ ra rất đơn thành, chẳng hề giấu tôi điều gì, kể cả ước muốn của nàng. Về ơn gọi của nàng, nàng thỏ thẻ với tôi: “Em có ông chú làm cha. Ông muốn em đi tu. Còn em, em cũng muốn đi tu làm dì phước để có dịp phục vụ Chúa và các linh hồn, và để dùng ngón đàn, tiếng hát mà ca tụng Chúa.”
Và quả thật, tu viện là môi trường rất tốt để nàng phát triển về mọi phương diện.
Về văn hóa, nàng không được xuất sắc, tuy nhiên nàng rất cố gắng giữ mức trung bình. Nàng sợ học kém sẽ không tu được và như vậy sẽ mất dịp phát triển các tài năng khác. Bù lại về mặt nghệ thuật, hoa tay nàng trổi vượt chị em. Nàng học đàn rất mau, đặc biệt là đàn lục huyền cầm (tức Tây Ban Cầm hay còn gọi là đàn Guitar). Ngoài ra giọng ca của nàng cũng khá truyền cảm. Vì thế, khi nào tu viện có văn nghệ gần như đều có mặt nàng. Tiếng hát, tiếng đàn của nàng làm cho khán giả khó quên. Còn về mặt kịch nghệ, ca vũ, nàng thường đóng vai “bà mẹ, cô gái…” cũng lôi cuốn không ít, nhờ bản tính dễ khóc dễ cười của nàng…
Cũng nhờ năng khiếu tự nhiên trời ban, nàng có địa vị vững chãi trên sân khấu. Mặc dù trong phạm vi nhỏ bé của tu viện, nàng cũng được bề trên cho đi trau dồi thêm nghệ thuật ở trường chuyên môn.
Tập thể đã đánh giá nàng không sai. Ngay từ lần thi đầu, nàng đã trúng tuyển vào học trường nghệ thuật và kịch nghệ. Nàng chọn học môn điều khiển dàn trống là môn nàng vẫn ước ao. Mỗi khi có dịp dự buổi trình diễn nào, nàng thường tìm cách sà tới gần người điều khiển dàn trống, quan sát học hỏi. Vả lại, tu viện mới sắm bộ trống để hỗ trợ cho những buổi văn nghệ nội bộï, nhưng chưa có ai chuyên môn. Nàng cũng dọ dẹ chơi được, nhưng còn lạc lõng. Được dịp quý, nàng đã chớp cơ hội.
Nàng học rất mau, tiến rất lẹ, đến nỗi giáo sư hướng dẫn nàng cũng phải nhận nàng có đôi tay thiên phú. Đã vậy nàng rất vững về âm pháp, nên ngồi vào dàn trống là hầu như nàng làm cho dàn trống có hồn, tất cả cùng hòa trộn trong hứng thú của nàng khiến cho khán giả vừa ngây ngất vì tiếng trống, vừa say sưa vì động tác uyển chuyển mềm dẻo của nàng.
Thi ra trường, nàng đã được lãnh bằng khen xuất sắc. Nàng được nhiều người chú ý.
Trong tu viện, nàng phụ trách ban văn nghệ. Mỗi lần trình diễn, nàng chỉ cần thông qua bề trên nội dung những tiết mục, còn phần điều khiển hoàn toàn do nàng. Phải công bình mà nói rằng: những buổi trình diễn do nàng điều khiển đã gây được hứng thú cho khán giả không ít.
Thế rồi danh tiếng tài nghệ của nàng vượt qua bức tường tu viện, đầu tiên lan tới các tu viện bạn. Nàng bỗng trở thành người thầy cho các đồ đệ cùng một ham muốn như nàng. Trong nhiều trường hợp, nàng còn được mời chơi giùm dàn trống vì tài nghệ của nàng gây hứng thú cho những buổi văn nghệ. Chưa hết, tài nghệ của nàng còn được cống hiến cho quảng đại quần chúng thưởng thức trong những chương trình văn nghệ của đài truyền hình.
Tài nghệ của nàng được “lăng xê” quá rộng, nàng trở nên mục tiêu cho nhiều người nhòm ngó. Nhiều ban nhạc đã tìm cách mời mọc, chiêu dụ nàng. Nhưng nàng cũng bị nhiều chị em chống đối, chỉ trích nặng lời và gán ghép cho nhiều chuyện.
Vào chính giai đoạn này, nàng tâm sự với tôi: Nàng không phủ nhận tâm hồn nàng có nhiều biến động. Nhiều lúc nàng cũng đã nghĩ đến chuyện trở về thế gian. Tuy nhiên khi thức tỉnh, nàng vẫn không muốn rời bỏ môi trường đã dạy nàng. Cuộc sống này rồi sẽ ra sao? Đời sống của nàng với đời sống bên ngoài khác xa nhau như trời với đất. Và nhất là không có nơi này, chẳng bao giờ nàng có thể phát triển tài năng như nàng hiện có để rồi rời bỏ đời tu. Đàng khác, nàng cũng phải tự nhủ rằng: có nhiều hình ảnh đã in khá rõ nét trong nàng, nhưng lý tưởng hiến thân đã tẩy sạch các hình ảnh đó.
Trong khi đó, nàng cũng phải nhận một sự thật cay đắng này là một số đông không chấp nhận một con người có khả năng nghệ thuật như nàng lại có thể tu được. Theo họ, muốn tu phải “không được dính dáng ba cái thứ văn nghệ văn gừng, nghệ thuật nghệ đồng”; trái lại phải có đời sống nội tâm…
Quả thật, lúc đó nàng bị giằng co sâu xé giữa hai ngã, một đàng muốn dùng nghệ thuật phục vụ lý tưởng, một đàng muốn giải thoát khỏi bị chống đối mỗi ngày mỗi lớn.
Những sâu xé đó làm nàng sút cân, bệnh cũ của nàng tái phát, nàng bị sưng phổi nặng. Thế là nàng hết sử dụng nổi ngón trống nghệ thuật của nàng được nữa, sức khỏe của nàng mỗi ngày mỗi xuống trông thấy. Bạn bè thân tín của nàng đều còn nhỏ, thương bạn thì thương vậy, nhưng khả năng hạn chế, nên chẳng làm gì chạy chữa cho nàng được. Trong khi đó, áp lực dư luận về phía các chị già vẫn không giảm mà còn biểu đồng tình với bệnh tật chồng chất lên cho nàng.
Câu chuyện của nàng bay đến tai ông chú nàng. Sẵn dịp có người thân nhượng cho ngài một căn phố, ông xin cho nàng được về nhà nghỉ dài hạn chữa bệnh. Ý kiến hợp tình hợp lý của ông chú được chấp thuận, nàng được tạm thời rời tu viện để về nhà chữa bệnh.
Nhờ được chăm sóc, thuốc men đầy đủ, được nghỉ ngơi tịnh dưỡng, không bị kẻ nói ra nói vào, sức khỏe của nàng sớm bình phục.
Nghe tin này, nhiều ban nhạc được biết nàng qua những buổi trình diễn, hay những sô trên màn ảnh truyền hình, đua nhau đến mời nàng cộng tác. Nhưng ông chú không muốn nàng cộng tác với bất cứ ban nào với hai lý do: một vì sức khỏe của nàng mong manh không thể thích ứng với những lúc phải thức đêm thức hôm, ăn uống thất thường, đi đây đi đó, vất vả, mệt nhọc… Nhưng nhất là ông cũng tránh cho nàng dư luận xấu rằng, nàng muốn rút lui để đi làm tiền.
Để nàng có việc làm và để nàng có lợi nhuận sinh sống, ông đã giúp điều kiện cho nàng biến căn phố nàng ở thành tiệm may. Nhờ nhiều người biết nàng, nên tiệm may của nàng cũng sống khả quan…
Tôi biết cuộc đời nàng đến đó, vì sau đó tôi phải từ giã thành phố để trở về miền quê sinh sống. Những năm đầu tôi vẫn nhận được thư từ của nàng, trong đó nàng vẫn phấn khởi khoe khoang với tôi những điều may mắn của nàng: tiệm may của nàng không hết việc, sức khỏe của nàng đã khả quan lắm. Đôi khi nàng cũng đi chơi trống giúp cho một hai chương trình, nhưng nàng có ý định trở lại tu viện…
Thế rồi, tình hình chiến cuộc nổ lớn, đất nước được giải phóng, tôi chẳng còn được tin tức gì về nàng nữa. Tôi có hỏi thăm tu viện thì được biết nàng chưa trở về tu viện như nàng đã viết cho tôi. Mãi đến sau này tôi có dịp hỏi thăm mấy người quen thuộc thì được biết nàng vẫn sống trong tiệm may của nàng và nàng làm ăn vẫn khá.
Tôi có gửi cho nàng hai, ba lá thư nhưng rồi không được hồi âm. Tôi đoán nàng làm ăn bận rộn nên không có giờ trả lời tôi, hoặc là vì một lý do nào đấy thư từ của tôi bị chặn lại. Do vậy, tôi không biết tin tức gì về nàng nữa.
Cho đến hôm nay tôi có cơ hội trở lại thành phố, thế nào tôi cũng phải tới thăm nàng, nhất là sau biến cố đổi đời, vả lại quá lâu tôi chưa được gặp nàng – một đứa em tinh thần ít nhiều gì cũng đã gắn bó với tôi.
Tôi đã đến đúng địa chỉ tiệm may của nàng. Số nhà và tên đường cũng vẫn như xưa, nhưng có điều là tôi không thấy bảng tên tiệm may đâu nữa. Nhà kéo cửa sắt kín mít. Tôi hơi thất vọng đoán là nàng đã đổi đi đâu rồi, hay có thể nàng đã chạy ra nước ngoài. Tuy nhiên tôi chưa dứt khoát với dự đoán của tôi vì theo tôi được biết: gia đình nàng rất thanh bạch, cha nàng làm nghề phát thư, tiền lương ba cọc ba đồng không đủ nuôi ông, lấy đâu dư giả. Mẹ nàng cũng chẳng khá gì hơn, chăn nuôi vài ba con heo, chăm sóc cho mảnh vườn nhỏ cũng hết ngày rồi, nên có giỏi lắm bà cũng chỉ xoay đủ tiền chợ mỗi ngày, không có khả năng dành dụm được, cho nên mọi chi phí may sắm của nàng đều do ông chú lo cho hết. Nhưng chú của nàng thì tôi biết rõ, hiện nay ông còn đang ở nhà. Như vậy chắc không phải nàng vượt biên rồi!
Nhưng nàng đi đâu? Tôi nghĩ đến trường hợp nàng đóng cửa tiệm sang nhà cho người khác để đi theo ai làm ăn rồi? Tôi thấy ý kiến này có vẻ khá vững vì với tài nghệ của nàng thời xưa cũng như thời nay, lúc nào chẳng đắc dụng. Nhưng rồi tôi lại thấy còn có thể hồ nghi được, vì ông chú của nàng còn kia, mà ông thì quyết liệt không chịu cho nàng làm nghề ấy.
Quyết định cuối cùng của tôi là liều hỏi chủ nhà xem nàng đã đi đâu. Giữa lúc đó, tôi nghe có tiếng người ru con vọng ra. Tôi càng đoán chắc nàng đã đi khỏi đây. Tiếng người mẹ ru con mỗi lúc một lớn hơn, vật vờ du dương và rất hấp dẫn khiến nỗi bực dọc không tìm được bạn của tôi cũng lắng xuống. Tôi miên man theo dõi tiếng hát, một điệu hò quen thuộc dường như tôi đã được nghe trong một dịp nào. Ký ức của tôi sôi nổi làm việc và tôi đã bắt gặp được bài hát đó.
Phải! Tôi đã nghe nàng hát trong đoản kịch “Lòng mẹ” do chính nàng tự biên tự diễn và nàng đã làm cho tôi phải khóc, khóc nhiều lắm vì hồi ấy tôi mới mất mẹ. Và sau khi trình diễn, nàng đã nói là để tặng tôi.
Nhưng không lẽ bây giờ nàng lại có con và nàng đang ru con sao? Và nếu có chồng có con, tại sao nàng không tiếp tục làm ăn mà lại dẹp tiệm may làm gì?
Sau một hồi do dự, tôi giơ tay lên ấn chuông. Tôi ấn nhiều hồi nhưng vẫn không hề thấy bên trong có một phản ứng gì. Tiếng hát ru con ngủ vẫn bình thản lọt ra. Tôi kiểm soát lại thì ra chuông không kêu. Tôi thay đổi, đập mạnh vào cửa sắt. Tiếng hát bỗng ngưng bặt. Tôi đoán là người nhà đã nghe thấy và tôi hồi hộp đợi người ra mở cửa.
Cánh cửa vừa hé mở tôi đã la lên:
– Trời! Thanh Giang!
Nàng xô mạnh cánh cửa rộng hơn, rồi cũng la lên:
– Chị!
Rồi nàng bấu vào cánh cửa, nức nở khóc.
Sợ có người đi qua nhìn thấy không tiện, tôi dìu nàng vào bên trong để mặc nàng gục vào vai tôi khóc cho đã.
Đợi cho nàng bớt xúc động, tôi an ủi nàng:
– Làm sao mà em chị xúc động quá vậy?
Nàng vừa nấc vừa nói:
– Em khổ quá, chị ơi! Mọi người bỏ em cả rồi!
Tôi đỡ nàng ngồi dậy, nhìn thẳng vào mắt nàng và an ủi:
– Thì ít là còn chị đây!
Nàng lắc đầu nói:
– Không! Cả chị nữa! Chị cũng đã bỏ em! Nếu chị ở gần em, hay ít ra em được liên lạc với chị, thì đâu em khổ đến nỗi như thế này!
Tôi nắm lấy hai tay nàng, đặt vào lòng tôi, ôn tồn nói:
– Chị xin lỗi em! Vì nhiệm vụ chị đã không thể ở gần em được. Đàng khác sau biến cố lớn của đất nước, chị tưởng em thay đổi, hoặc là em đã trở về tu viện như em đã viết cho chị, hoặc em đã dời chỗ ở. Nhưng sau đó, chị có hỏi thăm và biết được em chưa trở lại tu viện và còn ở nguyên chỗ cũ. Em vẫn sống bằng nghề may vá và vẫn đông khách, chị yên trí. Liền sau khi biết tin em còn ở nguyên địa chỉ cũ, chị đã biên hai ba lá thơ và không được hồi âm, nên chị nghĩ một là em quá bận không trả lời, hay là thư chị bị trở ngại, nên chị không viết nữa. Như vậy đâu chị có quên em. Hơn nữa, nếu quên em, đâu chị có khổ công tìm đến em hôm nay.
Nàng ngước mắt nhìn tôi, đôi mắt vẫn còn long lanh ngấn lệ. Nàng ngập ngừng nói:
– Em cám ơn chị. Xin chị đừng bỏ em! Em bị đày đọa quá sức em rồi!
– Thế nghĩa là làm sao? Em nói chị nghe nào?
Nghe tôi nói, nàng lại nấc lên khóc. Nàng rút tay khỏi tay tôi và ôm lấy tôi khóc, khiến tôi cũng phải khóc theo. Dù chưa biết nỗi khổ của nàng đến mức nào, nhưng tôi cũng đoán được nó phũ phàng và tàn bạo ghê gớm! Tôi lại đỡ nàng ngồi ngay lại và ôn tồn hỏi:
– Nào em nói cho chị nghe đi, liệu chị có thể giúp em được gì không?
– Không được đâu, chị ơi!
Rồi nàng lại lắc đầu nói:
– Em khổ quá rồi, chị ơi! Em muốn chết đi cho xong!
– Không được! Em của chị không nói vậy được.
Tôi nắm lấy hai vai và nhìn thẳng vào mắt nàng, tôi hỏi:
– Thanh Giang! Em còn là em chị nữa không?
– Dạ còn! Và mãi mãi em là em chị!
– Là em chị, em không được nghĩ đến hủy hoại mình.
– Dạ! Em hứa với chị không có chuyện đó đâu, đàng khác còn con của em kia.
– Con của em?
Tôi sửng sốt, gần như đứng tim. Tôi thổn thức hỏi lại nàng:
– Đứa bé kia là con của em?
Nàng cúi gầm mặt xuống đất, nét mặt hằn nỗi đau thương đến cực độ. Nàng khẽ trả lời tôi:
– Dạ!
– Nhưng ai là cha nó. – Tôi dồn dập hỏi nàng.
Vẫn giữ nét mặt khắc khổ ấy, thêm vào nỗi hờn căm. Nàng cắn chặt hai hàm răng lại như cố dằn cơn uất ức. Nàng không trả lời thẳng câu hỏi của tôi, nàng hỏi lại tôi:
– Chị có biết Trần Hoàng?
Tôi chau mày suy nghĩ để kiểm tra nhân vật nàng vừa hỏi tôi. Một lát, tôi trả lời:
– Có phải anh chàng Trần Hoàng tu xuất không?
Nàng gật đầu, tôi nói thêm:
– Tưởng ai chứ… anh chàng Trần Hoàng lừng danh ấy người nào mà không biết!
Rồi tôi tròn mắt hỏi nàng:
– Thế anh chàng đó là cha đứa bé?
Nàng lại gật đầu. Tôi hỏi tiếp:
– Nhưng sự việc đã xảy ra như thế nào?
Tôi tưởng nghe tôi hỏi vậy, nàng sẽ khóc nữa; trái lại nàng không khóc nữa, nhưng nét mặt nàng chìm sâu trong nỗi uất ức. Nàng nói:
– Nào em có biết Trần Hoàng khốn nạn như vậy!
Rồi nàng kể về tâm sự của nàng:
– Cách đây hơn một năm, cái hồi mà phong trào xuất ngoại đang ồn ào thì em gặp Trần Hoàng. Y đến xin trọ nhà em để lo liệu, móc nối vượt biên. Cũng nể tình tu trì, em đã cho y tá túc để chạy chọt.
Sau một thời gian đi đi về về, y báo cho em biết mọi sự đã sẵn sàng, y cho em coi đủ mọi tài liệu. Ngoài ra, em cũng thấy nhiều dấu hiệu đúng với những điều y nói, vì có nhiều người có vẻ thế giá đêm đêm đến thì thào với y. Hơn nữa, y còn cho em xem cả nắm vàng y giữ, càng làm cho em tin hơn.
Cuối cùng y báo tin cho em còn đúng một tuần nữa sẽ khởi hành. Y nói rõ cho em phải đợi cuối tuần trăng mới dễ lọt. Đến lúc này, y dụ dỗ và hối thúc em đi với y. Lúc đầu em không chịu, măc dù những lý y đưa ra em thấy cũng có vẻ thích thích như: em sẽ có cơ hội để phát triển tài nghệ, nếu cần em vẫn có thể tu được, và còn nhiều điều khác nữa… Nhưng em thấy chưa hỏi ý kiến ông chú, em không dám quyết định.
Trong khi đó, y đã mối lái bán hết máy móc tủ rả của em, chỉ đợi tối trước ngày em ra đi là người ta sẽ dọn hết.
Thế rồi trước ngày ra đi, em đã… chiều theo đòi hỏi xác thịt của y.
Nàng thở dài ngao ngán nói tiếp:
– Em ân hận vô cùng! Không hiểu vì sao lúc đó em lại yếu lòng như vậy.
Nàng kể tiếp:
– Tối hôm hẹn em theo y đi, lò mò cả một đêm, khi đi xe – khi lội bộ – khi len lỏi trong rừng vẹt – khi lội bì bõm dưới ruộng – rồi còn ngâm mình hàng giờ ở bờ biển để đợi tàu. Đến gần sáng cũng chẳng thấy tàu đâu, lại nghe có tiếng súng nổ. Bọn người vượt biên mạnh ai người ấy chạy. Trần Hoàng dìu em chạy vào đến bờ. Y nói với em: “Bể rồi! Em lo liệu về nhà ngay đi, anh thu xếp công việc một chút rồi anh sẽ về với em ngay”.
Tin lời y, em đã hớt hải mua vé chợ đen chạy về. Em về đến nhà thì đồ đạc máy móc, tủ rả… đã bị thu sạch, may còn cái xác nhà, người ta chưa thu.
Em ở nhà đợi Trần Hoàng trở về để làm lại cuộc đời, vì số vốn của em dành dụm cộng với số tiền y bán đồ đạc của em cũng dư để em làm lại được. Nhưng rồi, ngày một, ngày hai, cho đến tháng sau, tháng sau nữa… em cũng chẳng thấy Trần Hoàng trở lại.
– Và rồi việc gì xảy ra nữa chị có biết không? – Nàng quay hỏi tôi.
– Trần Hoàng đi lọt, bỏ em lại!
– Không đâu chị! Còn khốn nạn đểu giả hơn nữa kìa.
Nàng nói tiếp:
– Mấy tháng sau em được tin chắc chắn là Trần Hoàng chẳng có vượt đi đâu cả và y lại sắp sửa cưới một người con gái khác. Em nghe nói cũng lại là một người tu xuất.
– Thế em có cho y biết “tác phẩm” của y không?
– Dạ! Em đã gửi người thân tín đến nói với y mọi sự, để y nếu không nhìn nhận “tác phẩm” của y, thì cũng trả lại em số vốn của em để em sinh sống! Nhưng chị có biết y nói sao không?
Nàng cắn chặt hai hàm răng lại kêu ken két. Nàng nói tiếp:
– Nó nói rằng nó không hề biết em, kể cả cái tên Thanh Giang!
Tôi thở dài, lắc đầu, giơ hai tay lên trời than:
– Khốn nạn! Thật khốn nạn! Đểu, đểu quá!
Cả Thanh Giang và tôi đều yên lặng. Trong hoàn cảnh này tôi không biết lấy lời gì an ủi nàng được! Thanh Giang đáng trách hay đáng thương? Thanh Giang đáng trách vì nàng đã quá nhẹ dạ. Nhưng dễ tin, hay thương người là điều đã nằm sẵn trong bản tính của nàng. Hơn nữa, nhiều ít nàng cũng đã được môi trường giáo dục dạy nàng, nhất nữa, nàng lại là con gái, mà con gái thì đa cảm. Nàng đáng thương? Vâng, nàng đáng thương! Vì hoàn cảnh của nàng quá trắc trở, từ những lý do khiến nàng phải sống ở đây, đến những nguyên nhân đưa đẩy nàng đến thảm cảnh này.
Tôi âu yếm nhìn Thanh Giang như hồi nào tôi ngồi tâm sự với nàng trong những ngày còn sống ở tu viện. Tôi nói:
– Chị thông cảm với em lắm! Em của chị đáng thương hơn đáng trách.
Nàng nhìn lại tôi, đôi mắt rưng rưng ngấn lệ. Nàng ngập ngừng nói:
– Dạ! Thế là đủ cho em can đảm sống rồi.
Nàng nói tiếp:
– Khi em đã sa ngã rồi! Em có nghĩ đến chị, nhưng em tưởng, nếu chị biết em “khốn nạn” như thế này, chắc chị cũng bỏ em, ghê tởm và xa tránh em! Đó là lý do mà em không muốn sống.
Tôi xác định lại với nàng:
– Không! Chị không quên em! Em luôn luôn là em chị và lúc này chị càng thương em hơn.
Hai hàng nước mắt nàng tuôn ra. Nàng gục đầu vào vai tôi khóc. Nàng khóc vì ít ra cũng còn một tấm ván cho người đang chết đuối. Mặc dù, bản thân tôi, tôi biết, tôi chỉ là tấm ván mục chẳng làm gì nâng đỡ nàng dậy được. Tôi chỉ có tấm lòng với hai bàn tay trắng của một nữ tu. Tôi quay sang hỏi nàng:
– Thế còn ông chú em thì sao?
Nàng lắc đầu thổn thức nói:
– Ông chú em đã từ em rồi. Ông giận em quá sức…
Nàng tiếp:
– Ông giận em là phải vì em đáng tội.
– Thế em không trình bày đầu tơ mối nhợ cho ông chú em hay sao?
– Em đã trình bày hết rồi, nhưng ông chú em cho là em không thành thật với ông khi hoàn cảnh và điều kiện có thể.
– Ừ! Chị cũng nhận thấy đây là một điều sai trái lớn của em!
– Dạ! Em đã nhận khuyết điểm rồi, nhưng em nói để chị thông cảm với em. Thật sự khi y dụ dỗ em ra đi, em do dự hết sức, em có quyết định đi đâu. Vì vậy em không muốn nói với chú em. Chẳng qua em lỡ dại bị đẩy đến chỗ gần như làm liều.
– Thế không được giúp đỡ, giờ em sống làm sao?
Nàng giơ hai tay lên không, lắc đầu nói:
– Ở nhà còn cái gì, em nhặt nhạnh đem bán. Ngoài ra, ngày ngày em chiên ba trái chuối đem ra đàng trước bán, ngày kiếm vài ba đồng sống cho qua ngày.
Nàng thở dài nói tiếp:
– … đến nỗi em không có tiền trả tiền điện nữa, nên nhà đèn mới cúp.
– Hoàn cảnh như vậy em có thể thu xếp về với ba má được không?
– Không! Không thể! Em không đủ can đảm vác mặt về sống ở quê em. Hoàn cảnh em như thế này và sống mãi ở đây mà ba má em đã “sưng” mặt lên vì tiếng tăm rồi. Nếu em lại bồng con về nhà nữa thì chỉ có nước người ta nhận em xuống bùn đen.
Nghe nàng nói, tôi gật đầu tán đồng ý kiến này. Phải, dư luận chung còn rất khe khắt: một khi đã bước chân vào tu là phải tu một mạch cho đắc đạo chứ không được “hú”, nhất nữa “hú” không chồng mà lại có con, là một điều không thể tha thứ.
Tôi an ủi nàng:
– Phải! Chị thông cảm với em…
Giữa lúc đó đứa bé thức giấc khóc. Nàng vội chạy lại nựng đứa bé cho nó ngủ, nhưng đứa bé vẫn khóc thét lên. Tôi góp ý:
– Chắc cháu đói đó.
Nàng cúi xuống nôi, bồng đứa bé lên. Đứa bé bụ bẫm, xinh xắn như con búp bê. Nàng vén áo đưa vú cho con bú. Đứa bé miệng núm vú mẹ, còn tay kia bấu lấy vú bên của nàng. Hình ảnh êm đềm ấy gợi lại cho tôi một kỷ niệm xúc động. Ngày xa xưa tôi cũng như đứa bé này, đã từng núm vú mẹ và có ai đoán được tương lai của tôi sẽ ra sao đâu? Nó cũng còn nhắc cho tôi một kỷ niệm nữa: khi nàng diễn xuất vở kịch “Lòng mẹ”, nàng cũng vạch áo cho con bú thì bây giờ đây nàng đang đóng vai trò người mẹ thật.
Nàng bế đứa nhỏ lại gần tôi, nhỏ nhẹ:
– Chị trông con em có được không?
Tôi ngắm nghía:
– Được! Được lắm! Rất dễ thương!
– Rất dễ thương hay rất đáng thương chị?
Tôi nháy mắt, nhìn nàng mỉm cười trả lời:
– Cả hai em ạ!
Nàng rưng rưng nước mắt nhìn tôi và nói:
– Em nhận nuôi nấng, bao bọc cho con em, mặc dù em nhìn thấy trước, em sẽ gặp muôn vàn khó khăn, nhưng em chấp nhận như một việc đền tội của em.