Truyện ngắn: CÒN MỘT NIỀM TIN | 14. Người Thắng Cuộc
Truyện ngắn: CÒN MỘT NIỀM TIN | 14. Người Thắng Cuộc
Tác giả: Song Nguyễn
Ba chúng tôi thuộc toán chuyên viên khảo cổ được điều đến làm việc tại một vùng khá xa ánh sáng văn minh. Mục đích của chúng tôi – một kỹ sư có tuổi, đầy kinh nghiệm và hai đứa chúng tôi mới tốt nghiệp ra trường, là khảo sát nghiên cứu những di tích của người xưa ở vùng này; đặc biệt là xem trong những buổi lễ lạc hay hội hè, người xưa đã dùng dụng cụ gì để diễn tả tâm tình của họ.
Địa điểm khảo sát của chúng tôi nằm trong một vùng thật hấp dẫn, rộng hàng chục mẫu, nằm sát chân núi. Khí hậu thật dễ chịu, khi chúng tôi đến đây đang là mùa hè; nhưng không có ngày nào ngột ngạt như ở miền xuôi, tầng mây hình như lúc nào cũng lơ lửng trên đầu để ngăn cản tia nắng lao thẳng xuống. Ngoài lớp mây chờn vờn trên đầu, còn bóng mát của rừng cây thưa hàng, làm ánh sáng lọt xuống đất rất dịu. Nhưng nên thơ nhất là vào lúc đêm trăng, ánh trăng trong xanh, huyền ảo trải xuống khu vực chỗ sáng, chỗ mờ chập chờn, lung linh như cảnh thần tiên. Đẹp nhất là cảnh bên dòng suối.
Nước từ trên sườn cao của núi đổ xuống quanh năm. Ban ngày, dưới ánh sáng mặt trời, dòng nước như dòng suối bạc quanh co len lỏi dưới những hàng cây đổ xuống và trải rộng khắp vùng. Ban đêm dưới ánh trăng, dòng suối trở nên một dòng ánh sáng từ trời đổ xuống không tiếc.
Dù cảnh trí và khí hậu lý tưởng như vậy, nhưng đã không lôi cuốn được dân chúng đến sinh sống ở đây chỉ vì nó quá xa trục lộ giao thông. Muốn lên đây, người ta phải tự vạch lấy đường mà đi, len lỏi, lần mò qua những lùm cây vách đá, có khi rất nguy hiểm. Tuy nhiên không phải là tuyệt nhiên không có bóng người, trái lại ở đây có một ngôi chùa khá kỳ lạ. Nó khác với những ngôi chùa thường thấy, vì ngôi chùa này người sáng lập chỉ tốn một nửa, còn thiên nhiên đóng góp quá nữa, nghĩa là ngôi chùa dùng ngay một hang thật lớn xây cất mặt tiền và chỉnh trang bên trong. Thế là thành một ngôi chùa vừa đẹp, vừa kiên cố. Còn những nhà phụ là những hang nhỏ nối tiếp bên.
Theo tài liệu nghiên cứu của chúng tôi trước khi đến đây và cùng với những điều chúng tôi biết thêm, thì ở đây coi như bản doanh của một dân tộc cổ xưa. Những cuộc lễ lạc và tế tự thì thường được tổ chức ở đây. Toán chuyên viên chúng tôi đến làm việc khảo cứu cũng vì lý do đó.
Công việc của chúng tôi tiến hành từ từ, ngày ngày chúng tôi chia nhau lúc làm việc từng người, lúc làm việc chung, lượm lặt những mẫu đá có những hình thù khác nhau: cái búa, cái rìu, con dao của người xưa, nhưng điều chính yếu của chúng tôi vẫn là tìm kiếm dụng cụ người xưa đã dùng để diễn tả tâm linh của họ.
Ngoài cây “đàn nước” của đồng bào thượng hiện có đến ngày nay, chúng tôi còn thử nghiệm nhiều cách khác, lợi dụng sự chuyển động của dòng nước để cố tìm dấu vết, cách thức người xưa đã sử dụng. Dựa vào những công trình của những người đã nghiên cứu và sự dò hỏi tìm tòi, chúng tôi thấy có nhiều điều bổ ích.
Đồng thời với việc nghiên cứu dụng cụ có thể sử dụng dòng nước suối từ độ cao đổ xuống, chúng tôi nghiên cứu sức gió và đá vang trong các hang động chung quanh. Ở đây chúng tôi cũng thấy có nhiều điều khá kỳ lạ: Trong một cái hang nhỏ ta chỉ cần đặt một sợi nứa vót mỏng hoặc căng ngang hoặc căng dọc ở cửa hang và cho ngọn gió thổi vào hang, tùy khi ta vận dụng cho gió vào nhiều vào ít và tùy dây nứa để ngang hay dọc, ta sẽ có những tiếng âm rất khác nhau. Cũng qua khám phá này, chúng tôi đã thử đặt song song nhiều dây nứa có độ mỏng dầy khác nhau, chúng tôi cũng có được những âm thanh cao thấp như một bản hòa tấu…
Nhưng cái thích thú hơn của chúng tôi là dựa vào độ vang của các hang động, chúng tôi nghiên cứu âm thanh phát ra từ các tảng đá mềm cứng khác nhau nằm ở địa thế khác nhau để tạo âm thanh. Nhờ nghiên cứu và áp dụng thử đi thử lại, chúng tôi đã tạm thời tạo được một cây đàn đá ngũ âm ngay trong hang chúng tôi ở.
Mỗi buổi tối sau giờ làm việc, tôi thường dùng búa đập vào cây “đàn đá” của chúng tôi để giải trí. Những bài tôi quen đập là những bài “hò quan họ”, “lý ngựa ô”… Tuy không phải là nghệ sĩ nhưng cây đàn của chúng tôi mỗi chữ hoàn toàn áp dụng được trong hang chúng tôi ở. Với những điều kiện đặc biệt, nhưng cũng làm cho anh em chúng tôi cười nói vui đùa được.
Tuy nhiên có một yếu tố xen vào làm anh em chúng tôi xao lãng công việc nghiên cứu không ít, trái lại dành nhiều giờ cho những môn giải trí của chúng tôi: đó là mấy nhân vật sinh sống trong ngôi chùa đối diện với chúng tôi.
Ngay từ đầu tôi quên không giới thiệu mấy nhân vật này: trong chùa này – chúng tôi chưa được vào nên không biết trong đó thờ vị thần nào, chúng tôi chỉ căn cứ vào cách xây cất bài trí bên ngoài và cách ăn vận để tạm gọi là chùa (đền thờ Đức Phật) – có một người đàn ông, một người đàn bà và năm sáu người, lớn có, bé có mà chúng tôi chưa phân biệt con trai, con gái vì vừa phần những người này hình như muốn tránh né chúng tôi, vừa phần chúng tôi thấy xa xa mà người nào cũng cạo trọc đầu.
Thế nhưng, đó lại là một trò chơi “nghiên cứu” của chúng tôi. Chúng tôi thường đánh dấu số 1, số 2, … và cá với nhau, người bảo trai, người bảo gái. Thế rồi chúng tôi cùng theo dõi, nhưng chẳng làm sao lấy kết quả được, vì tất cả các khuôn mặt đều giống nhau, có cái đầu lại cạo trọc lóc, nên ở xa chúng tôi không phân biệt được, thành ra cứ phải hòa với nhau mãi. Cái khó hơn nữa, ban ngày rất ít khi thấy mặt họ. Họ thường sinh hoạt vào ban tối lấy nước tắm giặt…
Rồi một hôm tôi đang say sưa đập đàn thì anh bạn đòi mượn búa để chơi. Anh bạn nói:
– Hôm nay tới phiên cậu lấy nước về ăn mà cậu chưa làm. Đưa vồ đây và đi làm nhiệm vụ đã.
Ra ngoài đối với tôi lúc ban đầu thấy ngại, vì từ hang chúng tôi ra tới suối phải mất cả bốn năm trăm thước, nhất là tôi chưa làm quen được với con đường ghồ ghề. Chính vì vậy mà chúng tôi đều giải quyết mọi vấn đề lúc ban ngày, còn hôm nay vì một lý do ngoài ý muốn tôi đã quên mất.
Mặc dù ngại, nhưng tôi không muốn anh em phải trở ngại vì tôi. Tôi đã gắng mình len lỏi đi lấy nước. Cũng nhờ đầu tuần trăng nên tôi không gặp khó khăn gì lắm. Trái lại, tôi cố tưởng tượng ra cái cảnh du hành không gian mà tôi đang là nhà phi hành gia bước đi trên bề mặt “chị Hằng”.
Khi đến gần suối tôi nghe như có tiếng người rì rào. Tôi dừng lại và cố gắng theo dõi. Quả nhiên là ngoài tiếng nước đổ ào ào, âm thanh không đều của cây “đàn nước” cũ chúng tôi đặt, còn có tiếng người. Tôi nhẹ nhàng men lại gần và cố hết sức để không lộ tung tích. Sau khi tìm được chỗ ẩn khả dĩ có thể quan sát được, tôi cố căng mắt để theo dõi. Thế nhưng tôi cũng chỉ biết được một điều như chúng tôi đã biết, là trong số đó có người cao thấp khác nhau mà chúng tôi đánh số. Tôi rất tiếc hôm nay không phải ngày rằm để tôi được thấy cảnh ngàn năm một thuở: “đoàn tiên tắm suối”. Tuy nhiên, tôi tự nhủ cố sức khám phá ra một điều gì mới trong đám những nhân vật bí mật kia. Tôi đếm đi đếm lại là sáu người tắm, chứ không phải năm người chúng tôi đã gặp. Tôi lại biết chắc một điều nữa là không có ông già bà già ở đó, vì hồi nãy ở nhà ra, tôi đã nhìn thấy hai người ấy ở nhà.
Tôi đang mải miết theo dõi, bỗng tôi nghe có tiếng người nói với nhau:
– Chị Liên! Chị sửa lại ống nước cho nó kêu đều đi chị Liên.
Người khác trả lời xem ra có vẻ hiểu biết lắm:
– Đừng phá của người ta.
– Tụi em đâu có phá! Từ hồi nãy nó đã vậy rồi.
Nói rồi người mang tên Liên lom khom sửa lại những ống nước chúng tôi đã đặt, nhưng có lẽ nước đã làm dây buộc tuột ra, nên mấy ống không kêu. Sau một hồi sửa chữa, cái đàn nước trở lại kêu như cũ. Tụi nhỏ đứng chung quanh trầm trồ khen:
– Chị Liên giỏi quá ha!
Đứa khác vui vẻ hỏi:
– Nhà chị có thứ đàn này không, chị?
– Nhà chị có đàn, nhưng nó kêu khác cơ.
– Nó kêu giống thứ đàn của mấy ông ấy không, chị?
– Hơi giống chút thôi, đàn nhà chị nó kêu “từng tưng” cơ.
– Ồ hay, chị nhỉ!
– Tuần sau chị ra tắm với tụi em nữa nhé.
– Không được, tuần sau chị phải coi nhà.
Câu chuyện của bọn người tắm loay hoay mãi, cho tới khi trăng tắt họ mới kéo nhau về. Đợi cho bọn người đi hẳn, tôi mới lách mình ra khỏi chỗ ẩn để lấy nước.
Quả nhiên khi tôi trở về chỗ trú ngụ, thì anh bạn tôi và cả mấy người công nhân trong đoàn đều lo lắng chờ đợi. Tôi giấu nhẹm chuyện tôi đã thấy, đã nghe ở bờ suối để phịa ra lý do tôi về muộn. Mọi người đều chấp nhận lý do tôi đưa ra một cách dễ dàng.
Thế là từ hôm đó, ngoài những công việc nghiên cứu những điều thắc mắc về các nhân vật nhà đối diện, tôi còn thêm một thắc mắc nữa: làm sao tôi phải gặp được nhân vật mang tên Liên để tôi đánh cá với anh bạn tôi. Tôi quyết tâm không tiết lộ bí mật này cho tới khi tôi đã khám phá xong.
Cách đêm tôi ra suối hai ngày, anh em chúng tôi lại ra suối tắm, và như thường lệ anh bạn tôi có nhiệm vụ kiểm soát lại cây đàn nước. Vừa lui khui kiểm soát, anh bỗng hỏi tôi:
– Cậu mới sửa lại cây đàn sao đây?
Bị hỏi bất thình lình, tôi quên mất mục đích đã định, vội la lớn:
– Không … ơ … ơ
Khi tiếng “không” vừa thoát ra khỏi miệng, tôi mới nhớ ra vội trả lời:
– Ờ, hôm nào mình thấy nó lạc cung, nên mới sửa đó.
May mà anh bạn chỉ hỏi đến đó, nếu anh hỏi thêm chắc là tôi sẽ bí và bí mật của tôi có thể bị lộ. Đàng khác, cũng từ hôm đó, tôi ít thắc mắc với anh bạn về những nhân vật bí mật kia nữa.
Cho đến ngày hẹn “một tuần” ra suối tắm. Tôi sắp xếp chương trình để hành động, nhưng đến lúc sắp bắt tay vào việc tôi mới thấy nhiều nỗi khó khăn. Trước nhất, không biết làm thế nào chắc chắn được rằng “gia đình” nhà Chùa có ra suối tắm, và nếu có đi thì có phải chỉ còn một mình cô Liên ở nhà hay không? Thứ đến, phải nại đến lý do nào để tôi ra ngoài có vẻ tự nhiên. Điều khó nhất là làm sao gặp được “chị Liên” cho êm xuôi.
Khác với mọi tối, ăn cơm tối rồi, chúng tôi thay nhau đập đàn giải trí, hôm nay tôi nhường cho anh bạn chơi trước, còn tôi ra ngoài dạo mát ngắm trăng.
Trăng rằm vào tháng hè thì thật là tuyệt vời. Trong xanh gần như ánh điện huỳnh quang, mọi vật gần như hiện nguyên hình dưới ánh sáng chị Hằng. Nhờ đó, tôi có thể dễ dàng nhìn thấy những vật chuyển động ở khá xa tôi. Tôi đinh ninh rằng, nếu như “gia đình” này mà chưa đi tắm. Có lẽ chưa đi thì đúng hơn, vì cách đây chừng nửa giờ tôi còn thấy bóng người thấp thoáng bên đó. Và tôi mới chỉ vắng mặt khoảng thời gian đó. Nếu vậy, bất cứ một người nào ra ngoài, tôi sẽ có thể nhìn thấy được.
Giữa lúc đó, tôi thấy có bóng người từ trong nhà đi ra thật, tôi vội ẩn mình để quan sát. Bóng người cứ nối tiếp nhau bước ra. Tôi đếm được đủ tám bóng. Thế rồi, một bóng người dừng lại không bước tới nữa. Bảy bóng người vẫn lặng lẽ hàng một chuyển động dưới ánh trăng. Mặc dù tôi không nhìn rõ, nhưng tôi biết bóng người còn lại kia là “chị Liên”. Như vậy thật hợp với những gì tôi đã nghe. Tôi hồi hộp tiếp tục chương trình.
Nhưng vì không thấy tôi tham dự cuộc đập đàn như mọi tối, anh bạn tôi đập mỏi tay, lao ra ngoài tìm tôi, và vì không thấy tôi, anh bạn gọi ầm lên. Tôi thấy có mối nguy hiểm về chương trình, nên phải vội vàng lên tiếng. Rồi miễn cưỡng vào nhà đập đàn với anh bạn một hồi.
Vì tâm hồn tôi đang bị chi phối nhiều chuyện, nên tiếng đàn của tôi kém truyền cảm. Tuy nhiên, tôi cũng phải cố gắng hết sức để bạn tôi không nghi ngờ gì về tôi. Tôi đập đàn, bạn tôi ngân nga theo, rồi hát thành lời làm khua động cảnh tuyệt đối yên lặng của khu vực.
Đập đàn được một hồi, tôi lấy lý do ra ngoài để quan sát khu vực vào đêm trăng. Người bạn của tôi cũng dễ dàng chấp nhận quyền tự do của tôi, còn anh cũng cần có giờ để tường thuật những khám phá của đoàn.
Vừa bước ra ngoài, mắt tôi đã vội phóng về phía “Chùa”. Bỗng tôi nhìn thấy một bóng đen đang từ triền dốc gần nhà, tôi len lỏi về phía chùa. Không suy nghĩ đắn đo gì nữa, tôi lao đầu đuổi theo bóng đen mà tôi đoán chắc là chỉ có “chị Liên”, không còn ai khác nữa. Có lẽ nghe tiếng động đuổi theo, bóng người tiến mỗi lúc một nhanh hơn, nhưng tôi đã quyết không buông tha, nên bằng mọi giá tôi phải đuổi sát bóng đen. Nhưng vì không quen đường, hơn nữa vì gấp rút, tôi trụt cả dép để đuổi cho kịp, nên tôi bị vấp té.
Bị té nhào xuống đất, tôi cố gượng gạo chỗi dậy miệng kêu:
– Chị Liên! Chị Liên! Chị Liên cứu tôi với!.
Rồi để tăng thêm vẻ bi thảm, tôi ngồi ôm chân rên la. Quả nhiên tôi nghe có tiếng chân người nhà nhè nhẹ, lạo xạo trên lá tiến về phía chỗ tôi. Tôi kêu lớn hơn nữa:
– Có ai đó! Cứu tôi với! Tôi đau quá rồi!
Tiếng chân người mỗi lúc mỗi tiến gần và tôi đã nhìn thấy bóng người. Tôi vẫn tiếp tục rên rỉ:
– Ôi, đau quá! Chúa ơi!
Bóng người đứng ngay trước mặt tôi hỏi:
– Ông sao đó?
– Tôi té!
Tôi nói tiếp:
– Tôi được gặp ai đây?
– Tôi ở trong “chùa” gần đây.
– A, thế có phải chị Liên đấy không?
Người đối diện đứng lặng một lát, chắc đang suy nghĩ vì ngạc nhiên về điều tôi vừa hỏi, rồi nàng hồi hộp trả lời với tôi:
– Phải! Tôi là Liên.
Rồi người đối diện hỏi lại tôi:
– Nhưng làm sao ông biết tên tôi.
Thay vì trả lời, tôi ôm chân rên rẩm:
– Ối ối đau quá! Cứu tôi với!
Chị Liên cúi xuống hỏi tôi:
– Ông đau như thế nào?
Tôi vừa cúi xuống, vừa giơ tay chỉ. Tôi nói:
– Có lẽ tôi bị sai khớp hay gãy xương gì đó?
Rồi tôi lại rên rẩm kêu:
– Ôi đau quá! Cứu tôi với!
Chị Liên cúi xuống hỏi tôi:
– Tôi làm gì cho ông được?
– Chị cho tôi vịn để lết lại gốc cây kia dựa cho đỡ đau chút.
Nàng ngần ngờ suy nghĩ rồi nói nho nhỏ, nhưng tôi cũng nghe thấy: “kỳ quá”. Biết thế tôi lại rên. Nàng miễn cưỡng nắm lấy tay tôi kéo đứng dậy nói:
– Nào! Ông cố đứng dậy, tôi dìu đi nào.
– Không được! Chị cho tôi vịn vào vai chị chút.
Chị Liên thở dài, rồi cúi xuống cho tôi vịn vào. Tôi một tay bám chặt lấy vai nàng, một tay vịn tay nàng cố trườn người khệnh khạng đứng dậy. Tôi rên rẩm, lết từng bước một, nhưng thực tế để xem nàng có đúng là con gái không. Khi biết chắc nàng là con gái, tôi mới ngập ngừng nói:
– Nếu Thượng Đế không cho tôi gặp cô hôm nay, chắc tôi chết.
– Có gì mà ơn với nghĩa. Nhiệm vụ của chúng tôi là giúp đỡ mọi chúng nhân bịnh mà.
Đưa tôi đến gốc cây, nàng nói với tôi:
– Ông ngồi xuống đây nghỉ cho khỏe đã.
Một tay tôi vẫn vịn vai nàng, còn tay kia tôi bỏ tay nàng ra để vịn vào gốc cây, rồi từ từ hạ thân xuống. Tôi nói với nàng:
– Nhân danh lòng “từ bi”, chị Liên ngồi xuống đây cho tôi hỏi thăm chị một tí.
– Tôi không được phép.
– Nhưng trời phật đâu có nỡ bỏ kẻ lâm nạn.
Suy nghĩ một lát, nàng hỏi lại:
– Nhưng ông muốn hỏi điều gì? Tôi không có nhiều giờ?
– Lý do nào mà tôi được gặp chị Liên ở đây?
Lặng thinh một lát, nàng trả lời:
– Tôi đến nghe mấy ông đàn.
– Cô cũng biết đàn?
– Dạ! Tôi có học.
Nói rồi, nàng vội chữa lại:
– A! Tự nhiên tôi biết.
Tôi hỏi thẳng nàng:
– Chị Liên ở đâu đến đây vậy? Tôi được nghe những người ở trong chùa nói về chị rất nhiều và vì vậy tôi mới biết tên chị đấy chứ.
– Người trong chùa nói về tôi?
– Phải! Và tôi còn biết chị biết chơi cả đàn dương cầm nữa.
Nàng hồi hộp đến nỗi tôi nghe được cả tiếng nhịp tim đập của nàng. Nàng nói với tôi:
– Thế anh biết hết về Liên rồi hả!
– Tôi biết và tôi có ý tìm cô từ lâu rồi.
– Tìm tôi?
– Phải, tìm Liên.
– Liên van anh đừng cho ai biết Liên ở đây nhá.
– Nhưng tại sao Liên phải lên mãi đây mà tu?
– Liên quá bất mãn với gia đình đã ngăn cản không cho Liên xây dựng gia đình với người Liên yêu.
Nói đến đây, nàng hốt hoảng cắt đứt câu chuyện:
– Tôi phải về ngay, sắp đến giờ họ về rồi.
– Được, Liên về đi! Tôi sẽ gửi thư cho Liên nói nhiều hơn. Liên cứ ra gốc cây này, tôi để thư dưới hai hòn đá này.
Nàng vội vã trở về chùa, quên cả nhiệm vụ giúp đỡ kẻ gặp nạn; còn tôi quên mất cả tai nạn vừa bị.
Thế là từ hôm đó, nhờ nàng tôi biết được nhiều điều về những nhân vật bí mật trong chùa. Biết được cả lý do nào họ sống ở đó và những ai là trai là gái; ngoài ra, tôi còn biết rõ cả đời nàng nữa. Cũng nhờ vậy mà những cuộc đánh đố của tôi với anh bạn, tôi luôn luôn là người thắng cuộc.
Sau thời gian trú ngụ làm công tác nghiên cứu, tôi đem theo về những tài liệu quý giá của tổ nghiên cứu khảo cổ của chúng tôi và mang theo luôn cả bí mật về những nhân vật “bí mật” và cả “bí mật” về nàng nữa…
Cho đến một ngày kia, nàng trở về với tôi. Dù đã có thể dự đoán, tôi cũng phải sững sờ không ngờ lại có thể xảy ra sớm như vậy. Hơn nữa, tôi không thể ngờ nàng duyên dáng đến như vậy. Thấy nàng tôi hốt hoảng la lên:
– Liên! Em!…
Nàng cũng bàng hoàng như tôi. Nàng nhào vào vòng tay của tôi, ngập ngừng nói:
– Anh!
Và rồi chúng tôi đã yêu nhau. Nàng đã bằng lòng ở lại xây dựng gia đình với tôi.
Ngày ăn tiệc cưới chúng tôi, tôi đã tiết lộ bí mật giữa tôi với nàng. Anh bạn tôi ngơ ngác, bàng hoàng và long trọng tuyên bố: Tôi là người thắng cuộc!…
***