Truyện ngắn: CÒN MỘT NIỀM TIN | 1. Người Bẻ Ghi
Truyện dài: CÒN MỘT NIỀM TIN| 1. Người Bẻ Ghi
Tác giả: Song Nguyễn
NGƯỜI BẺ GHI
Cho mãi tới hôm nay tôi mới có cơ hội trở về thăm gia đình. Và như vậy là tôi đã thất hứa với cha tôi nhiều lần.
Trên chuyến xe lửa tốc hành, tôi hân hạnh được làm bạn với ba người đồng hành trong một phòng toa hạng hai. Trong ba người bạn của tôi thì có hai người thuộc phái đẹp, một cô gái lối chừng hai mươi, hai mươi mốt, dáng người mảnh mai, nước da sáng bóng, cặp lông nheo cong vút làm cho đôi mắt cô có một sức hấp dẫn lạ thường; còn người đàn bà kia, già hơn cô gấp hai lần, cũng có những nét quý phái giống hệt cô gái, nhất là cái miệng và sống mũi cao. Tuy nhiên, hình như hai mẹ con đang có chuyện gì không vui nên rất ít nói cười. Trái lại, ông già ngồi bên gần tôi rất vui tính. Cứ theo như ông nói thì ông mồ côi vợ từ lâu rồi. Còn tôi, một họa sĩ trẻ mới ra trừơng, ít kinh nghiệm, nên chuyện gì đối với tôi cũng dễ tin và người nào đối với tôi cũng dễ yêu, nhất là những người đẹp.
Với những người “bạn đường” không lựa chọn, không một lần gặp gỡ quen thuộc trước, làm sao tôi có thể trao đổi, cười đùa với họ cho trôi quãng thời giờ dài trên chuyến xe lửa?
Cái dở của tôi là rất vụng về khi chuyện trò với người khác, nhất là đối với những người đẹp – mặc dù tôi rất thích họ và muốn gần gũi làm quen với họ, nhưng lại rất dở khi gợi chuyện với họ. Trường hợp hôm nay là một điển hình. Khi biết mình được xếp ngồi trong phòng với những người bạn này, tôi có ý mừng thầm. Tôi tự nhủ: “Như vậy số tôi cũng vào loại đào hoa” vì được đồng hành với người đẹp. Thế nhưng khi phải đối đầu làm quen, tôi chỉ nói được mấy câu rồi không biết nói gì nữa. Tôi quay lại cầu cứu ông bạn già, nhờ ông vui tính và đầy kinh nghiệm xã giao, nên tôi đỡ lúng túng hơn. Tôi cố gợi chuyện để ông truyền cho tôi chút ít kinh nghiệm quý báu đó.
Kể cho tôi nghe hết chuyện này đến chuyện kia trong đời hoạt động của ông, bỗng ông quay sang hỏi tôi:
– Cậu có vợ chưa?
Tôi bối rối về câu hỏi đột xuất của ông vì không hiểu ý ông hỏi để làm gì; đàng khác, khi nghe ông hỏi tôi như vậy, cả hai mẹ con cô gái cũng đưa mắt nhìn về phía tôi. Tôi liến thoắng trả lời :
– Bác thử đoán xem cháu có vợ chưa?
Người đàn ông nhìn thẳng vào mắt tôi như thôi miên, rồi chậm rãi nói:
– Cậu có…!
Ông gật gù rồi nói tiếp:
– Chắc cậu mới có người yêu?
Tôi vội trả lời:
– Dạ, người yêu cháu cũng chưa có!
Tôi liếc mắt nhanh về phía người con gái, thấy nàng mỉm cười và vội nhìn ra phía cửa sổ; còn người đàn bà góp ý:
– Cậu bao nhiêu tuổi mà chưa có người yêu.
– Dạ…! Tôi nói với giọng phân trần: Tại nghề nghiệp của cháu nó bấp bênh lắm, nên không cô nào dám thương cả.
– Thế cậu làm nghề gì mà bạc bẽo vậy? – Người đàn bà hỏi tôi.
Tôi lại liếc mắt nhìn về phía người con gái để dò phản ứng của nàng. Nàng không nhìn về phía tôi, nhưng hình như nàng đang chăm chú theo dõi câu chuyện của tôi. Đôi mắt nàng nhìn xuống những ngón tay mảnh khảnh đan vào nhau đặt trên đùi nàng. Tôi cố tình tạo sự chú ý bằng cách thở dài trả lời:
– Dạ! Cháu làm nghề họa sĩ.
Người đàn ông bỗng chen vào an ủi tôi:
– Ừ! Vậy mà khỏe đấy! Vợ con… nhiều lúc cũng khó xử.
Người đàn bà vừa hỏi tôi, xem ra không đồng quan điểm ấy, bà bỉu môi nhưng bà không nói gì. Tôi thấy có điều không vui nên tôi hỏi lại người đàn ông:
– Hẳn là bác không bằng lòng về bác gái?
– Không! Không! Vợ con tôi rất tốt… nhưng bây giờ tôi chẳng còn một ai.
Tôi tròn mắt ngạc nhiên hỏi lại người đàn ông:
– Sao vậy bác? Bác có thể cho cháu biết nguyên nhân được không?
Người đàn ông bỗng trở nên khắc khổ, mất hẳn nét tươi vui hoạt bát lúc nãy, mắt nhìn trở nên xa vắng. Ông nhìn vào khoảng không trước mặt, thở dài, rồi nhẹ nhàng nói:
– Tôi chỉ có một đứa con gái thôi và cả hai mẹ con nó chết trong một trường hợp hết sức bi thảm. Đứa con gái tôi tên là Nguyệt Minh, 22 tuổi…
Tôi vội cắt ngang câu chuyện, hấp tấp hỏi người đàn ông:
– Thưa bác! Cô Nguyệt Minh có phải là nghệ sĩ không ạ?
Người đàn ông ngẩng đầu lên, bỡ ngỡ nhìn tôi hỏi lại:
– Cậu biết con tôi sao?
– Dạ! Hồi đó báo chí đều có tường thuật vụ án đó.
– Đúng đó!
Người đàn ông lại cúi xuống, như cố kiềm mối cảm xúc đang trào dâng trong lòng, trả lời tôi:
– Tuy nhiên báo chí ưa khai thác vấn đề tình cảm của con tôi hơn là đề cập thâm sâu đến sự kiện.
– Dạ! Thưa bác, thâm sâu của vấn đề… Ý bác muốn nói gì ạ?
Người đàn ông chau mày nói:
– Tôi tin có ma!
– Bác tin có ma? Nhưng bác đã thấy ma như thế nào?
– Theo tôi! Người ta chết không phải là hết đâu, nhưng xác chết rồi, hồn vẫn còn lẩn khuất đâu đây.
– Cháu cũng tin như vậy! Nhưng trong trường hợp chị Nguyệt Minh, bác thấy thế nào?
Ông già ngẩng đầu thoáng nhìn tôi giây lát, rồi lại cúi đầu xuống. Ông trả lời câu hỏi của tôi, giọng ông trầm hẳn xuống như vẫn còn chất chứa nỗi đắng cay. Ông nói :
– Ngoài một số chi tiết cậu đã được báo chí thuật lại, có điều đúng, nhiều điều sai; nhưng điều đáng kể nhất là hồn thiêng của con tôi. Cái lý do khiến con tôi chết, lúc này tôi chưa tiện nói ra. Nhưng khi nó bị giết tàn ác như vậy – mặc dù kẻ chủ mưu đã rất khôn khéo và bố trí rất chu đáo -, tôi phải thành thực công nhận, đến nỗi với con mắt chuyên nghiệp của nhà chức trách cũng xác nhận là con tôi chết và mất tích do một tai nạn, nhưng ngay từ hôm con tôi chết, đêm nào nó cũng về tường thuật việc nó bị giết với vợ tôi. Rồi đến hôm sau cùng nó giục vợ tôi đi lấy xác nó về chôn cất đàng hoàng cho nó.
Vợ tôi đã tới ngay chỗ con gái tôi báo mộng, nhờ người nhà đào bới thì quả thật mọi sự đúng y như điều vợ tôi đã được báo.
Bọn giết người thấy âm mưu đen tối có nguy cơ bị phát giác, nên bọn chúng tìm cách ám hại vợ tôi để phi tang. Cùng ngày với vợ tôi bị ám hại thì tôi cũng từ ngoại quốc về đến nhà.
Được nghe biết những hung tin này, tôi gần như muốn điên lên. Bạn bè khuyên tôi nên tránh một ít ngày để bảo đảm tính mệnh, nhưng tôi thấy không cần phải đi đâu, nếu có phải chết cũng trọn tình với vợ con. Đêm hôm đó, chính vợ tôi về báo mộng cho tôi.
Tôi đang chập chờn ngủ trong sự mệt mỏi và đau khổ thì vợ tôi hiện về. Nàng đứng sát cạnh tôi, nét mặt thiểu não. Tôi quay sang nhìn nàng, nàng tru lên khóc. Quá cảm động về cái chết đột ngột của nàng, tôi cũng chỉ biết khóc với nàng. Khi kềm được cơn xúc động, tôi yêu cầu nàng cho tôi biết trường hợp nàng bị vong mạng. Nàng đã thuật lại đầy đủ chi tiết cái chết của nàng và hiện xác nàng đang nằm ở đâu… Tôi đã bí mật báo cho cơ quan an ninh và quả là mọi sự diễn tiến y hệt việc vợ tôi báo mộng.
Suốt đêm hôm đó cũng như cả buổi hôm sau, tôi thấy người thiếu nữ lúc nào cũng theo sát bên mẹ. Mỗi lần tầu đỗ ga, mẹ nàng phải xuống mua thức ăn, đồ uống, nàng lại năn nỉ tôi: – Anh ở lại trên xe với em.
Và như vậy bọn hành khách chúng tôi đều tin rằng có ma, nhưng mỗi người có quan niệm và cách xử trí riêng…
Chiều hôm đó đến ga Bình Định, tôi chào từ biệt những người bạn đường của tôi để thực hiện một món quà trước khi về thăm ba tôi.
Người đàn ông siết tay tôi với tất cả lòng trìu mến của ông. Người đàn bà ân cần nhắn gửi tôi: “con phải ghé nhà bác chơi nhé!”. Còn người con gái rưng rưng không dám nhìn thẳng tôi, nàng e ấp nói nho nhỏ như để tôi vừa đủ nghe: “Nhớ ghé em nhá!”
Đợi cho chuyến xe lửa chuyển bánh, tôi vẫy chào những người bạn đường yêu quí của tôi, tôi mới định tâm để thực hiện kế hoạch.
Lần đầu tiên tôi dùng chuyến xe lửa tốc hành này để về quê, nên có nhiều cảnh làm tôi thích thú. Tôi đứng ngắm mãi cảnh trí ở sân ga, một cảnh phối hợp giữa công trình của thiên nhiên và của con người, vừa có văn minh kỹ thuật vừa có sự đóng góp lao động. Tôi định khi mặt trời vừa xuống tới đầu ngọn núi là tôi sẽ bắc giá vẽ bức tranh với đề tài: “Chiều sân ga”.
Khi tôi vừa mới dựng giá vẽ lên, một người đàn ông từ ngã ba đường rầy tiến lại chỗ tôi. Người đàn ông cúi đầu xuống, lặng lẽ tiến thẳng như ông ta đã nhắm hướng trước. Khi ông ta tiến gần tới giá vẽ của tôi, tôi thoáng nghĩ hay tôi đã đặt giá vẽ thẳng con đường thói quen của ông. Tôi vội kéo giá vẽ xa hẳn hướng đi của người đàn ông. Tôi không muốn có chuyện rầy rà vì như vậy sẽ làm mất hứng sáng tác của tôi.
Thế nhưng, khi tôi đã kéo giá vẽ của tôi tránh hướng đi tới của người đàn ông, thì chính người đàn ông lại đổi hướng tiến thẳng tới giá vẽ của tôi. Tôi thấy quả có chuyện kỳ lạ, nên để đại giá vẽ đó và đứng đợi xem người đàn ông này làm gì?
Khi người đàn ông đến gần, tôi chăm chú theo dõi và thủ thế để sẵn sàng đối phó nếu như người đàn ông đó giở thủ đoạn.
Người đàn ông tiến tới gần, tôi thấy nơi ông ta có những nét rất lạ thường: nước da ngăm ngăm đen như người gốc Chàm, thân mình hơi gù, tóc hơi quăn, râu ria lổm chổm như rễ tre. Khi đến ngang tôi, ông ta ngoắc hẳn đầu nhìn tôi, cặp mắt mệt mỏi, xa vắng, y như người bị mất ngủ triền miên. Tôi nhìn ông để chờ đợi một lời nói, nhưng lạ thật, ông ta chỉ trố mắt nhìn tôi, rồi lại lặng lẽ cúi đầu đi. Bước đi được mấy bước, ông ta quay đầu ngước nhìn tôi giây lát rồi lại tiếp tục đi.
Từ lúc người đàn ông bước qua giá vẽ nhìn tôi, tôi như mất hết nghị lực. Con người tôi trở nên đê mê y như con ruồi bị chú nhện thôi miên. Tôi thắc mắc tự hỏi: người đàn ông kia là ai?
Tôi đang thắc mắc về người đàn ông kỳ lạ thì ông ta lại đi từ sân ga tới thẳng lại chỗ tôi lần nữa. Cũng như lần vừa rồi, mặc dù hướng tiến thẳng của ông ta là giá vẽ của tôi, nhưng khi tới gần giá vẽ, nhất là khi đi ngang qua giá vẽ, ông ngước mắt nhìn tôi y như lần trước. Tôi đánh bạo cúi đầu, nói: “Chào ông”. Người đàn ông không hề có một phản ứng gì, vẫn cứ nhìn, trầm lặng và âm thầm đi qua…
Bị thôi miên, tôi hết hứng để làm việc, ngược lại tính tò mò bị kích thích nổi dậy: tôi phải tìm hiểu người đàn ông bí mật này. Tại sao ông đến với tôi, nhìn tôi rồi không nói gì. Ông muốn tôi làm gì?…
Đến lần tôi, tôi thu giá vẽ lại cho vào trong túi, đi thẳng về hướng người đàn ông vừa đi. Tôi tìm thấy người đàn ông không khó khăn gì. Ông đang ngồi tựa vào cột đèn, mắt nhìn không chớp vào ngọn đèn đỏ báo hiệu cho đoàn xe chậm lại. Tôi lại gần ông chào:
– Chào ông!
Người đàn ông vẫn bất động không hề có một cử chỉ nào khác. Tôi nghĩ là ông ta điếc, nên tôi cố sức nói lớn hơn:
– Chào ông!
Người đàn ông vẫn thản nhiên, không thèm nhìn đến tôi. Tôi bắt đầu thấy chột dạ. Tôi băn khoăn không biết nên khám phá tiếp hay rút lui thì một người công nhân có việc đi qua, thấy tôi chào người đàn ông, chị công nhân nói nhỏ với tôi:
– Đừng có phá ông ấy! Ông ấy nổi sùng là khổ đó!
Tôi vội quay hỏi người đàn bà:
– Ông ta sao vậy?
– Ông ta “mát”! – Người đàn bà trả lời rồi vội bước đi như sợ ông ta nghe thấy…
Còn lại một mình, tôi suy nghĩ: người đàn ông này nhất định là không điếc, ông ta có thể nghe thấy người nào nói xấu ông ta? Ông ta cũng không câm, vì còn la lối những người dám xúc phạm đến ông. Ông cũng không mù lòa gì. Còn ông ta “mát”, nhờ được biết chút ít về tâm lý, tôi đoán người đàn ông này có thể có điều gì u uất mà không nói với ai được, nên tôi càng quyết tâm phải tìm hiểu người đàn ông kỳ lạ này.
Tôi tự nhủ: phải làm cho người đàn ông này nói mới chịu. Tôi kiểm điểm bao thuốc lá của tôi, chỉ còn một điếu thuốc. Tôi để lại túi đồ nằm chình ình ở đường rầy, chạy vào sân ga mua bao thuốc thơm để may ra câu được người “bạn” khó tính của tôi.
Khi tôi trở ra chỗ để túi đồ của tôi, tôi hơi ngạc nhiên vì túi đồ của tôi đã được đưa xuống mé đường cách xa đường rầy cả bốn năm thước. Tôi hết nhìn gói đồ, rồi lại nhìn người đàn ông, nhưng tất cả đều bất động. Tôi ngó trước, ngó sau để xem ai đã mang túi đồ của tôi ra đường rầy, tôi thấy chẳng có ai ngoài người đàn ông ngồi kia. Tôi quyết tâm thăm dò. Tôi lại gần chỗ người đàn ông ngồi nhỏ nhẹ:
– “Cháu” cám ơn bác!
Người đàn ông ngó chằm chằm nhìn tôi như để nhận định, đánh giá con người tôi. Tôi nồng nàn nói tiếp:
– Cháu mới ở thành về thăm nhà!
Người đàn ông nhếch miệng, chậm rãi nói với giọng trầm buồn:
– Cậu để đồ đó, xe lửa đi qua nó cán nát hết.
– Cám ơn bác! Cháu thật vô ý quá!
Tôi lợi dụng tấn công luôn:
– Giờ này mà bác chưa về nhà?
Người đàn ông lại nhìn tôi lần này bớt xoi mói hơn, giọng nói cũng đỡ cộc cằn, lạnh nhạt. Ông nói:
– Tôi phải trực tàu!
– Thế ra bác là người bẻ ghi?
Người đàn ông gật đầu và nói tiếp:
– Tôi không có nhà.
Tôi sà xuống ngồi bên người bẻ ghi, xé bao thuốc thơm mời bác hút. Do dự một lát, người bẻ ghi mới chịu giơ tay nhận điếu thuốc tôi mời. Rồi khi mồi lửa, người bẻ ghi mới nói với tôi:
– Cậu hút thứ thuốc thơm mắc tiền quá vậy?
– Dạ thưa bác, cháu chưa có gia đình nên đôi khi cũng bay bướm tí cho vui. Hơn nữa, hôm nay được gặp bác ở đây, cháu muốn mời bác hút điếu thuốc làm quen.
Tôi liếc mắt nhìn người bẻ ghi, thấy ông ta rất bình thản, không tỏ vẻ xúc động hay bất mãn gì cả. Con người như thế này không thể là con người “mát” được và như vậy, tôi kết luận: hẳn ông phải có tâm sự gì u uất. Tôi nhớ lại người đàn ông tôi đã gặp trên xe lửa và câu chuyện ông ta đã kể, nên tôi bắt đầu hỏi dò:
– Thưa bác! Bác ở đây, còn gia đình bác thì sao ạ?
Người bẻ ghi hít một hơi thuốc lá, nhả khói ra và trả lời tôi:
– Tôi chẳng còn ai cả.
– Thế bác gái mất từ bao giờ?
– Vợ tôi mất sau khi chúng tôi lấy nhau được hai năm. Năm đó tôi mới 22 tuổi.
– Bác mới hai mươi hai tuổi? Sao bác không bước thêm bước nữa?
Người bẻ ghi nhếch mép cười, có lẽ đó là nụ cười mùa đông. Ông lấp lửng nói:
– Tôi cũng đã nghĩ đến chuyện đó, nhưng vợ tôi không bằng lòng!
– Ủa! Bác nói bác gái mất rồi cơ mà!
– Đó mới là vấn đề…
Người bẻû ghi trở nên dễ dãi, mất hẳn nét khinh mạt mà ông vẫn có. Ông nói tiếp:
– Khi tôi định lập gia đình thì vợ tôi hiện về khóc lóc năn nỉ thương nàng, đừng phụ tình nàng… Lúc đầu tôi không tin – ông nhấn mạnh – thời đại này mà tin chuyện ma quái là lạc hậu rồi. Nhưng rồi một lần kia khi nàng năn nỉ, tôi nạt nàng và đuổi đi. Vợ tôi khóc và bỏ đi, thế là từ hôm đó tôi đau liên miên cho đến lần tôi hứa với nàng sẽ ở vậy, lúc ấy tôi mới hết đau…
Tôi đốt điếu thuốc rồi trao cả bao thuốc và hộp quẹt cho người bẻ ghi. Tôi hỏi tiếp:
– Sau lần đó, bác gái còn hiện về với bác lần nào nữa không?
Người bẻ ghi mồi xong điếu thuốc, hít một hơi dài, từ từ nhả khói rồi nói tiếp:
– Nhà tôi còn về với tôi nhiều lần.
Ngưng một lát như để nuốt hết làn khói còn lại. Ông tiếp:
– Ngay cả việc tôi đứng bẻ ghi đây cũng là do ý kiến của nhà tôi.
– Cả việc đứng bẻ ghi này nữa?
– Như vậy hẳn bác gái giúp bác rất nhiều trong nghề của bác.
– Đúng! Đúng!
Người bẻ ghi vừa giơ tay lên rồi đập tay xuống, miệng thốt ra những lời ấy, rồi đập vào chân tôi nói tiếp:
– Cậu là người đầu tiên hỏi tôi ý này và cũng là người duy nhất tôi kể tâm sự đời tôi. Nhà tôi giúp tôi rất nhiều.
– Thật hân hạnh cho cháu quá! Bác có thể cho cháu biết một hai trường hợp bác gái giúp bác không?
Người đàn ông gật gù kể lể:
– Từ ngày tôi theo ý vợ tôi hành nghề đến nay, nàng đã giúp tôi rất nhiều. Nhưng chắc cậu muốn biết nàng giúp tôi bằng cách nào?
Tôi gật đầu tán đồng.
– Cậu nhìn cái đèn báo kia. – Người đàn ông hất hàm nói.
Tôi theo tay ông chỉ, nhìn lên cái đèn báo màu đỏ thông thường trong mọi sân ga. Tôi nói:
– Cháu chỉ thấy cái đèn báo thông thường?
– Phải, đó là ngọn đèn báo thông thường tôi thắp mỗi ngày, nhưng với tôi nó là ngọn đèn thần đó!
– A! Bác gái thường hiện về ở đó? – Tôi reo lên.
Người đàn ông không trả lời thẳng câu hỏi của tôi. Ông thủng thẳng kể tiếp:
– Tôi cứ nhìn vào ngọn đèn đó là biết các biến cố xảy ra cho chuyến xe lửa sẽ đi qua.
Trí tò mò của tôi bị kích thích mạnh, tôi dồn dập hỏi người bẻ ghi:
– Bác thuật cho cháu nghe đi!
– Được rồi! Nhưng cậu còn ở đây lâu mà?
– Ủa, làm sao bác biết? – Tôi sửng sốt hỏi người bẻ ghi.
– Cậu còn ở đây để sắm quà cho ba cậu mà!
Tôi ngạc nhiên gần như muốn la lên. Tại sao người đàn ông này đọc được bí mật của tôi. Tôi bắt đầu thấy sợ người đàn ông này, phải có một cái gì dị thường. Tôi nài nỉ:
– Nào bác nói cho cháu nghe đi!
Người đàn ông lâm râm đọc như cầu nguyện, rồi ông đằng hằng nói:
– Mỗi lần trên tuyến đường xe lửa này có biến cố gì xảy ra hầu như tôi được biết trước: Cách đây ba năm, chuyến tàu tốc hành mang số … chạy qua đây. Hôm đó tôi đã báo cáo với ông xếp ga ra lệnh giữ chuyến xe đó lại, nhưng ông xếp ga không tin tôi, kết quả là xe đi được mấy chục cây số, đầu xe bị lật kéo theo một số toa, làm chết cả chục người…
Lần khác, một chuyến xe qua đây, tôi cũng báo cho ông xếp ga đừng cho xe rời ga trước 12 giờ trưa mai. Ông xếp mới đổi đến, sợ không dám vì không có bằng chứng để làm chuyện “mê tín” đó. Sau đó, chuyện “mê tín” thành chuyện thật, xe bị mìn nổ tung, mấy chục người bị chết.
Rồi năm ngoái đây, tôi đã yêu cầu tiếp viên xếp ga tuyệt đối không cho người nào trên chuyến tàu sắp tới đổ xuống ga nhà. Ông xếp ga không đủ thẩm quyền và sợ bị chê là tin nhảm nhí… Chuyện không dám của ông đã làm chết cả trăm người “vì bị lây dịch tả do người từ chuyến tàu lửa tốc hành số … mang tới”.
Cứ như vậy và cứ như vậy mãi, tôi vẫn báo trước cho người ta, nhưng người này kể tiếp người kia, không ai tin tôi, còn cho tôi là người “mát” hoặc mê tín dị đoan… Thành ra từ đó, tôi khinh thường mọi người và tránh giao tiếp với họ.
– A! Thì ra… – tôi reo lên – thì ra tại người ta không tin bác. Nhưng bác cứ nói khơi khơi như vậy, quả cũng là điều khó tin.
Người đàn ông chau mày lại nói:
– Giải thích cho họ ư? Họ càng khinh thường và càng không tin mình nữa. Vả lại, đâu phải chuyện gì cũng kể lể cho họ được đâu?
– A! Cháu hiểu, bác có lý. Nhưng mỗi lần có biến cố sắp xảy ra, bác thấy gì ở trên ngọn đèn cảnh báo.
Bây giờ chúng tôi không còn nhìn rõ mặt nhau nữa, chỉ còn nhìn thấp thoáng thấy nét mặt nhau qua đốm lửa điếu thuốc cháy. Vì không nhìn thấy mặt nhau nên trước khi trả lời tôi, người bẻ ghi muốn biết tôi thuộc loại nào. Ông hỏi tôi:
– Thế cậu có cho điều tôi nói là dị đoan không?
– Dạ, dị đoan thì cháu hỏi bác làm chi!
Người bẻ ghi nói ngay:
– Thực ra cậu cũng chưa tin tôi đâu, nhưng rồi ra cậu sẽ thấy tôi không nói dóc.
Tôi chữa thẹn bằng cách xác định lập trường.
– Dạ! Cháu tin bác mà!
Người đàn ông đằng hắng rồi nói:
– Để cậu tin tôi, tôi báo cho cậu biết là thế nào chuyến xe lửa cậu vừa đi cũng gặp tai nạn.
Tôi sững sờ la lên: gặp tai nạn… Con tàu tốc hành mang số … khởi hành từ … lúc 4 giờ chiều, ngày …
– Bác thấy gì trên ngọn đèn? – Tôi hỏi lại.
– Tùy theo tai nạn lớn nhỏ mà ngọn đèn thay đổi, khi thì cứ thắp lại tắt, khi thì chớp tắt lâu hơn; có lúc ngọn đèn thay đổi độ sáng luôn: lúc biến đổi ánh sáng. Có khi vừa bằng đèn báo, có khi bằng chiêm bao…
Tuy nhiên, tôi vẫn chưa lui. Tôi tự hỏi: Làm sao có chuyện lạ đời như vậy? Nhưng tôi vẫn sợ người đàn ông khám phá được tôi không tin ông như ông đã đoán biết công việc của tôi lúc nãy. Tôi đang định đặt nhiều câu hỏi nữa để thử ông ta thì ông ta vỗ vai tôi nói:
– Thôi cậu về ngủ đi, để sáng mai lấy hứng mà sáng tác.
Ông ta nói với tôi như là người sành sỏi về nghề nghiệp vậy. Còn tôi, bây giờ tôi mắc công việc: có chuyến tàu sắp tới.
Tôi cố dụi mắt, lắng tai nghe để xem có dấu hiệu gì xe lửa sắp tới không. Tuyệt nhiên không có một tiếng động và cũng không có một vệt sáng nào lóe ra, tất cả đều tối như mực. Tôi ngạc nhiên hỏi lại người bẻ ghi:
– Bác quen giờ xe đến thế hả?
– Không! Xe lửa nhiều khi đi bất thường lắm, nhưng tôi nhìn ngọn đèn báo là biết có chuyến xe đến.
Tôi nhìn lên ngọn đèn báo, quả nó có tí gì khác thường thật: ngọn đèn đang rù rù bỗng bừng sáng lên, sáng rõ hơn, bỗng chớp chớp liên hồi ba bốn cái, rồi lại rù dần dần giống như ngọn đèn hết dầu.
Tôi hỏi người bẻ ghi:
– Đèn sắp hết dầu phải không bác?
– Không đâu! Tôi mới đổ dầu.
Ông nói tiếp:
– Chuyến xe lửa sắp tới cũng có những điều không lành.
Rồi tôi thấy có nhiều dấu hiệu cho biết chuyến xe lửa sắp tới. Người đàn ông đứng dậy vỗ vai tôi nói:
– Thôi, tạm biệt cậu! Hẹn sẽ có dịp gặp lại.
Tôi uể oải đứng dậy, từ giã người bẻ ghi để vào nhà ga kiếm nhà trọ. Bắt tay người đàn ông, tôi dúi bao thuốc thơm còn dởû vào tay ông và nói:
– Bác giữ lấy mà hút đêm.
Người đàn ông vui vẻ nhận ngay, rồi vội vã tới địa điểm làm nhiệm vụ.
Tôi vào sân ga, nhưng chưa muốn tìm nhà ngủ; trái lại, tôi chờ xem chuyến xe lửa mới tới có gì xảy ra như người bẻ ghi nói với tôi không?
Tôi đứng khuất vào sau cột nhà ga, sợ người bẻ ghi có dịp đi qua thấy tôi. Tôi căng mắt theo dõi chuyến xe vừa dừng ở sân ga xem có gì lạ.
Từng lớp người nối đuôi nhau bước xuống sân ga, rồi đồ đạc cũng được tuôn xuống. Cũng có một số người leo lên. Và như vậy thì đâu có gì lạ – Tôi tự hỏi. Nhưng rồi ở toa hàng ăn nhộn nhạo hẳn lên, trong ga một số người tò mò nghển cổ lên theo dõi. Kìa toa đó người ta đang khiêng xuống một người đặt nằm trên băng ca. Tôi không thể kìm được sự tò mò, nên mặc dù còn giữ kẽ, tôi cũng len tới phòng khách lớn của nhà ga để xem chuyện gì. Trước mắt tôi là một thiếu phụ có thai đã chết. Tôi hỏi thăm nguyên nhân nào chị ta chết và được người đồng hành cho biết là chị ta mắc gió nặng.
Được giải đáp thắc mắc, tôi lặng lẽ bước về phòng trọ. Trong trí tôi vẫn có một ý tưởng: “Kỳ lạ thật!…”
Suốt đêm hôm đó, tôi không hề nhắm mắt, cứ hết nằm lại ra hành lang đứng chờ cho chóng sáng để săn tin tức về chuyến xe lửa tốc hành của tôi hôm qua.
Đồng hồ nhà ga đổ năm giờ sáng, tôi rời phòng ngủ tới thẳng phòng liên lạc của nhà ga để hỏi thăm tin tức. Khi tôi hỏi thăm, người gác máy truyền tin về chuyến xe lửa tốc hành số… Người gác máy đang trầm tư suy nghĩ điều gì, bỗng giật thót người lên, quay hẳn lại, tròn mắt nhìn tôi y như anh ta vừa nghe điều gì kỳ quái. Quan sát tôi một lát, anh ta hỏi lại tôi:
– Anh hỏi làm chi vậy?
Trước sự hốt hoảng của anh, tự nhiên tôi đoán có điều gì khác thường, nên tôi bình thản trả lời:
– Tôi có người nhà đi trên chuyến xe lửa đó.
Người gác máy chau mày suy nghĩ một lát, rồi nhìn lại tôi, thấp giọng nói:
– Chuyến tàu đó vừa bị cướp quãng giữa ga XH và HB.
– Bị cướp? – Tôi hốt hoảng kêu lên.
– Anh nói khẽ kẻo đồng bào hoang mang. – Người gác máy nói với tôi.
Tôi thấp giọng xuống hỏi tiếp:
– Có gì xảy ra nữa không?
– Có án mạng!
– Còn gì nữa?
– Băng cướp có súng đã uy hiếp toa hạng hai bắn chết một người đàn ông, bắn bị thương một người đàn bà và dẫn đi một người con gái…
– Có phải vụ đó xảy ra ở phòng 36 không?
Người gác máy gật đầu.
Tôi như người mất hồn không còn kiềm chế mình được nữa, tôi la lên:
– Trời ơi! Phòng của tôi!
Không chần chừ nữa, tôi chạy thẳng ra chỗ người bẻ ghi để báo cho ông biết tai nạn mà ông biết trước. Vì trời hãy còn mờ mờ tối, vả lại tâm trí tôi chỉ có một chuyện. Tôi nhắm thẳng chỗ gác của người bẻ ghi chạy tới.
Tôi vội đi thẳng vào trong chòi, nhưng không thấy người bẻ ghi đâu. Tôi trở ra, căng mắt ngó xung quanh xem có thấy bóng ông ta đâu không? Không thấy đâu cả! Tôi đoán có lẽ ông ta đi uống cà-phê chăng?
Buồn buồn, tôi lại gần cây đèn báo kỳ diệu của người bẻ ghi để xem có thấy cái gì khác thường ở ngọn đèn không.
Khi tôi sắp sửa bước qua đường rầy để tới trụ đèn, tôi giật mình nhìn thấy một đống đen đen nằm ngang đường rầy. Tôi lại gần, cúi xuống coi, thì một xác người đã bị xe lửa cán bẹp nát đầu. Tôi hoảng hốt la lên: “có người chết”. Tôi định chạy vào trong ga báo cho đội an ninh, nhưng tôi kịp nhớ ra, tôi cần nhận diện người bị nạn một lần nữa để báo cáo đầy đủ hơn.
Tôi cúi xuống, thấy tay nạn nhân có cầm cái gì trắng trắng, tôi coi kỹ thì ra đó là gói thuốc thơm. Người bẻ ghi chăng? Tôi tự hỏi, rồi quan sát kỹ hơn: Đúng là người bẻ ghi.
– Người bẻ ghi đã bị xe lửa cán chết! – Tôi hồi hộp báo cáo với viên trưởng đồn an ninh…
Tôi lại theo đội an ninh trở lại chỗ xác người bẻ ghi nằm. Quan sát kỹ hơn vì trời đã sáng. Tôi rút chiếc khăn tay đậy mặt cho người xấu số, nhưng thật lạ, chiếc khăn tay tôi vừa đậy mặt cho người quá cố liền bị gió thổi cuốn vào chân trụ đèn và tôi thấy ngọn đèn phụt lên rồi tắt luôn…
Trong những ngày còn ở lại để tiễn đưa người bẻ ghi ra nơi an nghỉ cuối cùng. Điều làm tôi suy nghĩ luôn là trước khi chết người bẻ ghi đã thấy dấu hiệu nào và liệu ông có biết trước mình sẽ chết không? Chắc là không. Hôm qua ông vẫn còn nói với tôi về tương lai mà. Cũng như ông bạn già trên chuyến xe lửa của tôi, ông có được ai báo mộng rằng ông sẽ bị bọn cướp giết không? Ngoài ra, tôi đã chờ đợi người bẻ ghi hay ông bạn già báo mộng về hai cái chết tức tưởi mà không thấy. Có lẽ tôi là người kém tin chăng?
***