Truyện dài: TIẾNG KÊU | Chương Mười Sáu
Truyện dài: TIẾNG KÊU | Chương Mười Sáu
Tác giả: Song Nguyễn
16.
Cha cố Gioakim lưu ý Cha Phương Bảo điều này:
– Có một điều đặc biệt là, khi Tin Mừng truyền tới đâu, thì các thừa sai đã đặt tượng Đức Mẹ ở đó với niềm tín thác cậy trông, để nhờ Đức Mẹ che chở, gìn giữ.
Cha Phương Bảo tham gia thêm ý kiến:
– Thưa Cha cố, theo con biết, niềm cậy trông vào Đức Mẹ của giáo dân Việt Nam có cơ sở từ tín ngưỡng đạo Mẫu trong dân gian. Người bên lương thờ Mẫu Thượng Thiên, Mẫu Liễu Hạnh, Mẫu Thượng Ngàn… thờ mẹ Âu Cơ. Ở làng Hiền Lương (miền ngược), hiện có đền thờ Âu Cơ, được xây dựng năm 1465 thời Hậu Lê. Làng Hiền ở hữu ngạn sông Thao, tỉnh Phú Thọ, giáp với Yên Bái và Nghĩa Lộ cũ. Cha cố có nghĩ như vậy không?
Cha cố Gioakim gật đầu:
– Văn hóa chung của nhân loại có nhiều điểm tương đồng. Chẳng hạn niềm tin vào Trời của người Việt rất gần với đức tin Công Giáo tôn thờ Thiên Chúa. Và người Công Giáo có lòng sùng kính đặc biệt đối với Đức Mẹ hẳn nhiên phải có gốc rễ từ tình mẫu tử trong văn hóa Việt Nam. Nhưng Kinh Thánh đã chỉ ra vai trò đặc biệt của Đức Mẹ trong việc cộng tác vào công trình cứu chuộc nhân loại từ khi Người vâng lời sứ thần Gabriel đến khi Đức Mẹ đứng dưới chân Thánh Giá. Và Đức Giêsu đã không từ chối lời cầu xin nào của Đức Mẹ.
Cha cố Gioakim hướng nhìn về tượng Đức Mẹ lên trời trong phòng riêng của Ngài và nói tiếp:
– Lòng sùng kính Đức Mẹ trải dài trong suốt lịch sử của Giáo hội. Ngay từ thế kỷ thứ nhất, hình ảnh Đức Maria đã được tìm thấy trong các hang toại đạo Priscilla, hang toại đạo Thánh Phêrô, hang toại đạo Maiô. Kinh Trông Cậy được cho là ra đời vào khoảng năm 250. Từ năm 1000 trở đi ngày càng có nhiều nhà thờ, được xây dựng dành riêng cho Đức Maria, trong đó, nhà thờ Đức Bà Paris được xem là một kiệt tác.
Từ thế kỷ 13, rất nhiều hình tượng nghệ thuật về Đức Maria xuất hiện ở Châu Âu. Thời kỳ Phục Hưng các họa sĩ bậc thầy như Boticelli, Leonardo da Vinci và Raphael đã để lại những kiệt tác về Đức Maria. Đức Giáo Hoàng Clêmentê XI xác lập lễ Vô Nhiễm Nguyên Tội năm 1708. Năm 1854 Đức Giáo Hoàng Piô IX công bố tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội. Đức Giáo Hoàng Piô XII tuyên bố năm Thánh Mẫu và công bố tín điều Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời vào ngày 15 tháng 8 năm 1950. Trong Công Đồng Vatican II, Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đã công bố Đức Maria là Mẹ Giáo hội.
Cha cố Gioakim nhấn mạnh điều này:
– Đức Mẹ không chỉ hiện diện trong những tín điều của Giáo hội, mà còn trực tiếp hiện diện bảo trợ Giáo hội. Trong cuộc chiến chống lại quân Thổ Nhĩ Kỳ, Giáo hội đã giành chiến thắng dưới sự bảo trợ của Đức Maria, đặc biệt là chiến thắng Lepanto (1571). Lúc ấy Đức Piô V tha thiết kêu gọi toàn thể Giáo hội lần hạt Mân Côi, tham dự các cuộc rước kiệu công khai và hãm mình đền tội, khẩn nài sự trợ giúp của Mẹ Maria. Đức Mẹ cũng đã hiện ra nhiều lần và làm nhiều phép lạ được Giáo hội công nhận, như Đức Mẹ mạc khải cho thánh Catherine Labouré ở Paris trong khoảng 1830-1836, rồi hiện ra với Thánh Bernadette Soubirous ở Lộ Đức năm 1858 và hiện ra ở Fatima năm 1917. Khắp thế giới nơi nào cũng có trung tâm hành hương Đức Mẹ: như Knock ở Ireland, Beauraing ở Bỉ.
Ở Việt Nam, Đức Mẹ Maria hiển linh ở La Vang vào năm 1798. Một nhà thờ đã được xây dựng gần ba cây đa, nơi Đức Mẹ đã hiện ra và được Tòa Thánh tôn phong là Tiểu Vương Cung Thánh đường La Vang từ năm 1961. Vì thế, việc các thừa sai sùng kính Đức Mẹ và đặt tượng Đức Mẹ để xin Đức Mẹ bảo trợ là nằm trong truyền thống đức tin của Giáo hội.
Cha Phương Bảo lại đặt vấn đề:
– Thưa Cha cố, tượng Đức Mẹ ở Trà Kiệu, ở Tà Pao, ở Măng Đen có phải là do các thừa sai đặt không?
Cha cố Gioakim chia sẻ:
– Các tượng này không phải do các cố thừa sai đặt. Nhưng tượng Đức Mẹ ở các nơi ấy đã ban nhiều ơn cho những người thành tâm kêu cầu ngài.
Đức Mẹ Trà Kiệu ở quận Duy Xuyên, Quảng Nam được tôn vinh là Đức Mẹ “Đấng phù hộ các giáo hữu”. Năm 1883, sau khi vua Tự Đức chết, phong trào Văn Thân nổi lên. Họ phát hịch “bình Tây, sát tả” (đánh Tây, giết tả đạo – tức là người theo đạo Gia-tô). Ngày 1/9/1885, Giáo xứ Trà Kiệu bị quân Văn Thân bao vây chặt chẽ, họ tấn công liên tục. Đến ngày 9/9 quân Văn Thân kéo thần công về đánh phá. Trong hai ngày sau đó, họ không sao bắn trúng được nhà thờ. Họ thấy trên nóc nhà thờ có một bà mặc áo trắng, rất đẹp ngăn cản. Đức Mẹ đã cứu giáo dân nơi đây.
Tượng Đức Mẹ Măng Đen bị cụt tay được tôn vinh là Mẹ của người cùi. Nơi đây người dân tộc và người cùi đến viếng rất đông. Tượng được người dân phát hiện vào đầu thập niên 1980, ở thôn Măng Đen, xã Đăk Long, huyện Kon Plông, tỉnh Kontum. Tượng Đức Mẹ Tà Pao nằm ở xã Đồng Kho, huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận. Ngày 8/12/1959, lễ Cung hiến và khánh thành tượng Đức Mẹ Tà Pao do Giám mục Marcello Piquet (Piquet Lợi – Giám mục Giáo phận Nha Trang bấy giờ) cử hành. Trong chiến tranh, tượng bị bỏ quên. Mãi đến 2007 Trung tâm Hành hương Đức Mẹ Tà Pao mới được khánh thành vào ngày 13/5/2007…
Cha cố Gioakim nhấp một ngụm nước thấm giọng. Phong thái và tinh thần của Cha thật dung dị nhưng đầy niềm tín thác vào Đức Mẹ. Cha nói về trường hợp tượng Đức Mẹ ở Tây Nguyên:
– Tại vùng truyền giáo Kontum, bên bờ sông Ba có một nơi tuyệt đẹp, trời đất giao hòa. Trên đỉnh đồi, rừng cây thông xanh bạt ngàn, làn mây trời chờn vờn lơ lửng. Thoai thoải dưới chân đồi là dòng sông Ba không bao giờ cạn, khi đầy khi vơi và là nguồn tuôn sức sống cho người cho vật. Cả một vùng cao nguyên thơ mộng nơi đây trước kia cũng là một nơi cư dân sinh sống, cũng có một nhà nguyện, một tượng đài Đức Mẹ, nhưng rồi chiến tranh tràn tới, cư dân tan tác, nhà nguyện cũng chung số phận, chỉ riêng Đức Mẹ là vẫn còn đứng đó. Mẹ chia sẻ những buồn vui sướng khổ với con cái Mẹ và Mẹ đã từng ra tay cứu chữa biết bao nhiêu người gặp đau khổ, khốn khó, hoạn nạn. Chiến tranh cũng làm cho tượng Mẹ mang đầy thương tích.
Nhưng khi chiến tranh qua đi, con người đã quên đi tai nạn “rắn lửa”. Họ lao vào tìm kiếm lạc thú. Khu đồi thông thơ mộng cao nguyên được đưa vào quy hoạch làm khu du lịch, vui chơi giải trí. Người ta san lấp mặt bằng. Nhà nguyện và tượng đài Đức Mẹ cũng bị tháo gỡ. Có điều kỳ lạ là: đoàn xe máy ủi và hàng trăm công nhân đã khai quang và máy móc khai phá mặt bằng đá nhiều ngày, nhưng khi đến khai quang khu nhà nguyện trước kia thì xe ủi bị khựng lại. Kiểm tra lại máy móc, tất cả vẫn tốt, nhưng không thể nào ủi thêm được. Công trường phải thay xe khác. Xe mới hơn đến vẫn bị khựng lại. Không ai hiểu được nguyên nhân. Chiếc xe thứ ba được đưa đến. Xe mới khởi động chưa ủi được tấc đất nào thì bị bốc cháy. Người ta phải ngưng công trình để khám xét hiện trường. Lúc ấy mới biết nơi đây có một tượng Đức Mẹ bị chôn vùi trong đất đá. Sau đó người ta đã mang tượng đi đâu thì không ai biết. Và biết đâu người ta đã quăng tượng xuống sông?
Cha Phương Bảo ngậm ngùi:
– Thưa Cha cố, Cha nghĩ gì về những tượng Đức Mẹ được phát hiện và sùng kính ở nhiều nơi trên đất nước Việt Nam? Phải chăng còn có những tượng chưa được phát hiện?
Cha cố Gioakim có vẻ đăm chiêu:
– Thực sự không thể biết rõ được vấn đề. Nhưng chắc chắn một điều, khi nhà Nguyễn cấm đạo gắt gao, cùng với hành động “bình Tây, sát tả” của phong trào Văn Thân, thì nhiều tượng thờ đã bị triệt hạ. Và sau đó là chiến tranh hàng thế kỷ, nhiều nơi trước kia có giáo dân, có cơ sở thờ tự đã bị tàn phá hoặc bỏ hoang như trường hợp tượng Đức Mẹ Măng Đen hay tượng Đức Mẹ Tà Pao. Người ta có thể phá bỏ hoặc quăng tượng xuống sông như trường hợp tượng Đức Mẹ vừa được vớt ở sông Mêkông, khu vực Campuchia. Nhưng cho dù người ta có xúc phạm đến Chúa như thế nào, Chúa vẫn không bỏ rơi con người, trường hợp nguyên tổ là bằng chứng, rồi đến lịch sử dân riêng của Chúa, ngay cả thời Chúa Giêsu, dân Israel đã lên án và giết Con Thiên Chúa, nhưng Thiên Chúa vẫn tha thứ. Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa cũng luôn tìm mọi dịp, mọi hoàn cảnh để mời gọi con người trở về với Chúa. Phải chăng tượng Đức Mẹ vớt được ở sông Mêkông bên Campuchia là một thông điệp của Chúa gửi cho con người?
Cha Phương Bảo thấy rằng lý giải vấn đề bằng những hoàn cảnh xã hội chỉ là phần ngọn, mà gốc rễ vấn đề phải tìm trong ý Chúa quan phòng. Ngài hỏi Cha Gioakim:
– Vậy thưa Cha cố, Cha có nhận ra thông điệp nơi tượng Đức Mẹ sông Mêkông không?
Cha cố Gioakim có vẻ ưu tư và đắn đo:
– Có thể mỗi người sẽ tìm thấy thông điệp riêng cho mình từ tượng Đức Mẹ Mêkông. Chẳng hạn, gia đình Thạch Hải, người vớt được tượng sẽ nghe được tiếng nói của Mẹ khác với chúng ta. Khách hành hương tìm đến tượng Đức Mẹ cũng sẽ được Đức Mẹ hướng dẫn đời sống đạo khác chúng ta. Nhưng vượt lên trên hoàn cảnh, ta vẫn nhận thấy nét chung này: Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa, Người là mẹ của sự sống, Người bảo vệ quyền con người, Người là mẹ của các thánh tử đạo (mà cụ thể là các thánh Tông đồ), người là Mẹ Giáo hội, là Đấng Phù Hộ, là Mẹ Hằng Cứu Giúp những ai kêu cầu ngài. Ngay trong thời đại chúng ta đang sống, sự chà đạp nhân phẩm vẫn đang diễn ra khắp nơi. Sự tàn sát thai nhi kinh hoàng hơn cả nạn diệt chủng. Nạn buôn bán phụ nữ làm nô lệ tình dục trở thành tội ác xuyên quốc gia, những tội ác man rợ ngày càng gia tăng, tình trạng vô cảm đã hủy hoại mọi giá trị nhân bản. Chủ nghĩa thế tục, chủ nghĩa thực dụng và chủ nghĩa hưởng thụ đang làm băng hoại giới trẻ… Trước thực tại ấy Đức Mẹ muốn chúng ta làm gì?
Cha Phương Bảo lại được đặt vào những vấn đề của đời sống đòi buộc lương tâm Công Giáo phải lên tiếng nói, đòi buộc người theo Chúa phải hành động vì tình yêu thương đồng bào, thương yêu con người, đem tình yêu thương của Đức Kitô cho mọi người. Cha muốn được nghe những ý kiến của Cha cố Gioakim bởi ngài đã trải nghiệm một đời sống mục tử sâu sắc. Cha nói:
– Thưa Cha cố, Cha có thể nói rõ hơn những gì Cha trăn trở được không? Con thấy những vấn đề Cha đặt ra gợi cho con rất nhiều thao thức.
Cha cố Gioakim trầm ngâm:
– Thực ra những vấn đề của thực tại xã hội lại rất nhạy cảm, bởi ở mỗi góc độ người ta có thể nhận định khác. Chẳng hạn, chúng ta đang nỗ lực xây dựng và bảo vệ đất nước, đẩy mạnh phát triển kinh tế và hội nhập toàn cầu hóa, đời sống nhân dân đã được cải thiện đáng kể ở nhiều lĩnh vực, sản xuất hàng hóa của ta không thua kém gì thế giới, vị thế kinh tế và chính trị của nước Việt Nam đã có những thế giá mà thế giới khâm phục. Thế nhưng khi mở cửa, ảnh hưởng xấu của mặt trái kinh tế thị trường tràn vào làm đảo lộn mọi giá trị văn hóa Việt Nam. Nền văn hóa Nho giáo đã bị thay thế bằng văn hóa thực dụng Mỹ. Một cuộc xâm lăng văn hóa đang tràn vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Việt Nam. Giới trẻ gần như ngày càng mất gốc. Đạo đức xã hội xuống cấp trầm trọng. Sự xuống dốc về đạo đức đã được báo động, song chưa có cơ may vực dậy được. Biểu hiện rõ nhất là tội ác man rợ đang xảy ra hàng ngày và nạn nạo phá thai thật khủng khiếp.
Cha Gioakim đưa cho Cha Phương Bảo những trang báo có bài điều tra về những chợ phá thai công khai ở thành phố, những số liệu báo động về nạo phá thai ở Việt Nam, ngài nói:
– Cha thấy đó, báo Công An TP.HCM ngày 9/11/2006 đưa tin: Hàng năm ở Việt Nam có 1,4 triệu ca nạo phá thai, trong đó có khoảng 5.000 ca vị thành niên chưa lập gia đình. Ngày 31/3/2011, Hội Kế hoạch hóa gia đình Việt Nam đã công bố mỗi năm ở nước ta có khoảng từ 1,2 đến 1,6 triệu ca nạo phá thai, trong đó hơn 20% ở lứa tuổi vị thành niên. Gần đây, trong một cuộc hội thảo ở TP.HCM, có sự tham gia của hơn 150 nhà khoa học, dược sĩõ, bác sĩ sản phụ khoa đến từ 8 nước Châu Á-Thái Bình Dương, Hội Kế hoạch hóa gia đình lại công bố trung bình mỗi năm ở Việt Nam có khoảng 300.000 ca nạo hút thai ở độ tuổi 15-19, trong đó 60-70% là học sinh, sinh viên. Việt Nam vẫn là nước có tỷ lệ nạo phá thai ở tuổi vị thành niên cao nhất Đông Nam Á.
Cha cố Gioakim nhìn Cha Phương Bảo, Cha nói tiếp:
– Nhìn những con số vô cảm, ta chưa thể thấy được vấn đề, nhưng hãy thử so sánh với chiến tranh Iraq. Theo số liệu của Lầu Năm Góc, tính đến ngày 17/3/2004, sau ba năm Mỹ đánh bom Bão Sa Mạc, cùng với những cuộc đánh bom tự sát, đã có 30.000 người Iraq bị giết hại, 2.313 người Mỹ (kể cả lính và nhân viên quân sự) chết, 17.000 bị thương tổng cộng khoảng 50.000 người. Nhưng chỉ một năm, ở Việt Nam đã có 1,6 triệu trẻ em bị tước đoạt quyền sống. Và nếu tính từ khi chúng ta mở cửa thì số trẻ em bị giết sẽ là hàng chục triệu sinh linh. Chưa có cuộc tàn sát nào kinh khủng như thế. Thế chiến II, Hitler đã gây tội ác bị nhân loại lên án khi giết sáu triệu người Do Thái, thế giới cũng bàng hoàng khi Khmer Đỏ giết hơn hai triệu người Campuchia. Nhưng người ta lại vô cảm khi hàng năm ở Việt Nam có khoảng 1,6 triệu thai nhi bị giết. Cha nghĩ sao về vấn đề này?
Cha Phương Bảo bị đặt vào tình huống phải đối mặt với một vấn đề quá lớn của thời đại, Ngài thực sự lo lắng trước thực tại của giới trẻ. Cha khiêm tốn nhận thức vấn đề:
– Theo con thì căn gốc là ở hai vấn đề: Một là giáo dục, hai là kinh tế. Nếu giới trẻ không được giáo dục những truyền thống đạo đức của dân tộc và giáo dục nhân bản, thì khi bị chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa thực dụng tấn công, các em sẽ bị Mỹ hóa, sống hết sức thực dụng. Đặc biệt là khi các em ra khỏi cái nôi văn hóa gia đình, để đi làm, đi học ở thành phố, các em sẽ bị nhiễm rất nhanh những cái xấu của đời sống phố thị.
Còn về kinh tế, khi người ta tôn thờ tiền bạc, lấy cuộc sống hưởng thụ làm mục tiêu, thì người ta có thể chà đạp lên tất cả, dẫn đến việc buôn bán heroin, buôn bán phụ nữ trẻ em và kinh doanh đa cấp lừa bịp. Phim ảnh, vũ trường, giải trí chỉ khai thác cảnh trên giường, khai thác sex. Internet tràn lan những phim sex đồi trụy. Giới trẻ sống buông thả, đã yêu là phải yêu hết mình, “nhà nghỉ” chỗ nào cũng có, dù biết đó chỉ là trá hình. Hôn nhân không còn là giá trị quan trọng. Sinh viên, công nhân sống thử trước khi lấy nhau, và 99,9% là không hợp, và chia tay, mọi hậu quả, người nữ phải chịu. Ca sĩ, người mẫu, diễn viên là thần tượng của giới trẻ, nhưng nhiều người trong họ dùng những scandal sex để nổi tiếng, không ít người trong giới showbiz dính vào những đường dây mại dâm. Có tiền, họ dám làm tất cả, và hậu quả là việc nạo phá thai.
Cha cố Gioakim gật đầu tán đồng:
– Cha nói đúng. Chúng ta có thể nhìn thấy nhãn tiền những nguyên nhân của vấn đề, nhưng người ta lại không làm gì để ngăn chặn vấn đề ngoài những điều tra và những hội thảo. Bệnh viện và các cơ sở y tế tư nhân thì luôn mở rộng cửa đón những cô gái “lỡ lầm”, có cô sinh viên nạo thai đến bốn lần. Còn cha mẹ học sinh lại không sao kiểm soát được con cái…
Nhưng nguyên nhân sâu xa của vấn đề là sự chà đạp nhân phẩm con người, tước đoạt quyền sống của người khác, chà đạp lên chính sự sống. Người ta coi việc giết một thai nhi như giết một con kiến, rồi đưa ra đủ mọi lý do để bào chữa cho việc làm ác. Người ta không biết rằng, không gì quý bằng sự sống. Bởi con người không thể làm ra sự sống. Sự sống thuộc về Thiên Chúa. Khi nặn hình hài con người, Thiên Chúa đã thổi hơi sự sống và cho con người giống hình ảnh Thiên Chúa. Cho con người được hưởng dùng mọi điều tốt đẹp mà Thiên Chúa đã làm nên. Chúa dạy con người hãy sinh sôi nẩy nở đầy mặt đất để thờ phượng Chúa và hưởng hạnh phúc vĩnh cửu; nhưng con người qua bao đời đã phản bội lại ý định của Thiên Chúa, càng lúc càng chìm sâu trong tội ác. Chính tội ác làm biến đổi con người thành quỷ. Những con quỷ dâm dục, con quỷ tham lam, con quỷ tôn thờ của cải và quyền lực thế tục, quỷ kiêu ngạo, như Lucifer, tự coi mình là tất cả. Đoạn Kinh Thánh Lc 4,1-13 miêu tả quỷ cám dỗ Đức Giêsu, đủ để giải thích về những giống quỷ này.
Cha Phương Bảo lại đặt vấn đề với Cha cố Gioakim:
– Vậy thưa Cha cố, trong tình cảnh này, chúng ta có thể làm được gì?
Cha cố Gioakim lại dẫn Kinh Thánh để lý giải vấn đề:
– Trong Kinh Thánh, Đức Giêsu dạy: “Giống quỷ ấy, chỉ có cầu nguyện mới trừ được thôi” (Mc 9,29). Chúng ta cũng thấy Đức Giêsu cầu nguyện nhiều lần trước khi thực hiện những việc quan trọng, chẳng hạn khi Chúa chọn các tông đồ: “Trong những ngày ấy, Đức Giêsu đi ra núi cầu nguyện, và Người đã thức suốt đêm cầu nguyện cùng Thiên Chúa. Đến sáng, Người kêu các môn đệ lại, chọn lấy mười hai ông và gọi là tông đồ” (Lc 6,12-13). Chúng ta cũng phải cầu nguyện và cổ vũ nhiều người cùng cầu nguyện. Chúa dạy rằng: “Nếu ở dưới đất, hai người trong anh em hợp lời cầu xin bất cứ điều gì, thì Cha Thầy, Đấng ngự trên trời, sẽ ban cho. Vì ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đấy, giữa họ” (Mt 18,19-20). Mà muốn vậy, cần phải có những trung tâm hành hương để mọi người cùng hợp nhau cầu nguyện.
Cha Phương Bảo như hiểu được ý của Cha cố Gioakim, Cha nói:
– Thưa Cha cố, ý của Cha là chúng ta phải xây dựng một trung tâm hành hương để tôn kính Đức Mẹ, để mọi người cùng cầu xin cùng Đức Mẹ?
Cha Gioakim thổ lộ:
– Ngay khi dẫn dân về đây, tôi đã nghĩ đến một nơi tôn kính Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội và kính các Thánh tử đạo đã anh dũng đổ máu đào để bảo vệ đức tin. Có ngài đã từng nói: vua quan có thể giết được thân xác, nhưng không thể giết được linh hồn. Thánh Thông nói: vàng bạc đâu mua được sự sống đời đời. Cũng vì vậy, ngay từ lúc đó, tôi đã xin Đức Cha cho xây dựng, ít là một nhà nguyện thờ kính Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, Đức Mẹ bảo vệ sự sống và các Thánh tử đạo, và nếu có thể, thì cho phép xây dựng một trung tâm hành hương.
Nhưng sức lực và tuổi tác của tôi không thể thực hiện được. Đến khi Đức Cha đưa Cha về đây, Ngài đã nhận lời tôi cho xây dựng trung tâm Đức Mẹ. Bây giờ tôi rất vui, vì đã có người kế thừa công việc, nên dù có nhắm mắt tôi cũng an lòng…
Cha Phương Bảo muốn biết rõ hơn ý nguyện của Cha cố Gioakim:
– Thưa Cha cố, con cũng có một tâm nguyện như Cha, nhưng công việc ấy quá lớn lao, cha con mình sao có thể làm nổi, con thiết nghĩ: phải cả Giáo phận cùng chung sức mới có thể thực hiện được. Nhưng con muốn được nghe Cha cố chia sẻ thêm do đâu Cha lại có ước vọng ấy?
Cha cố Gioakim tâm sự:
– Đọc lại cuốn sách Dân Làng Hồ, tôi thấy thương và cảm phục các cố thừa sai quá. Tinh thần dấn thân và sự hy sinh của các Ngài vì Tin Mừng thật lớn lao. Các vị thừa sai hy sinh cả đời nơi chốn rừng sâu nước độc, đói khát, khổ sở, hiểm nguy rình rập. Nhiều vị đã bỏ mình, có vị chỉ mới được vài tháng.
Tại sao các vị thừa sai lại có thể từ bỏ cuộc sống bình an và đầy tương lai nơi quê nhà mà dấn thân đến một xứ sở xa lạ, rồi bỏ mình âm thầm nơi rừng sâu cô quạnh? Nếu tính toán theo cái nhìn thế tục thì không sao giải thích được. Câu trả lời là “Tất cả vì tình yêu Đức Kitô” như Phaolô đã viết trong thư thứ nhất gởi tín hữu Côrintô: “Khốn thân tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng” (1 Cr 9,16). Chắc chắn các ngài đã được Chúa chúc phúc, vì Chúa đã nói: “Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu không đủ điều xấu xa. Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao” (Mt 5,11-12).
Hồi ở Campuchia, tôi có may mắn được gắn bó với các cố thừa sai một thời gian dài, từ hồi làm chủng sinh đến tiểu chủng viện, đại chủng viện, làm Cha phó, rồi làm Cha xứ thay các ngài. Tôi đã được thấy, được nghe, được học hỏi và được chia sẻ với các ngài đời mục vụ; thành công thì ít, vất vả, thử thách, đau khổ về đoàn chiên thì nhiều.
Ở Campuchia, các ngài đã từng là nạn nhân của bọn diệt chủng. Chúng phá sạch, giết sạch và xóa sạch mọi ảnh hưởng của ngoại bang. Chúng triệt hạ nơi thờ phượng và đập bỏ ảnh tượng… Trong vụ ấy, các cố thừa sai và tôi cùng bạn bè cũng suýt là nạn nhân của “cáp duồn”. Các ngài đã bị trục xuất; còn tôi phải vội vã dẫn đoàn chiên về đây. Nhiều vị thừa sai đã gửi thân xác lại nơi xứ người, mồ mả của các ngài vẫn còn đó.
Phải nhận rằng, qua những hy sinh rất lớn của các cố mà Tin Mừng được loan báo đến cho dân tộc Campuchia. Sự thật, Tin Mừng được loan truyền đến đâu thì ảnh hưởng của ma quỷ ở nơi đó bị đẩy lùi; quyền sống, quyền con người, và những giá trị nhân bản được bảo vệ và thăng tiến.
Nhưng như lời Chúa nói: Khi đã trục xuất được một quỷ ra thì ma quỷ lại tấn công bằng bảy quỷ khác dữ tợn hơn. Các vị thừa sai đã bị các sắc dân, các nhà cầm quyền và chiến tranh đánh bật ra khỏi địa bàn, đàn chiên bị đánh tan tác, nơi thờ phượng bị tàn phá và tượng ảnh bị phá hủy hoặc buông sông. Chỉ trong một thời gian ngắn, trên dòng sông Cửu Long, khúc sông của địa bàn Campuchia, hai tượng Đức Mẹ đã được tìm thấy và vớt lên.
Trút hết được tâm sự với Cha Phương Bảo, Cha cố Gioakim xúc động thì thào:
– Tạ ơn Chúa. Xin Đức Mẹ giúp chúng con.