SƠ THẢO VĂN HỌC CÔNG GIÁO-Nguyễn Vy Khanh (Canada)
GIỚI THIỆU CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU
SƠ THẢO VĂN HỌC CÔNG GIÁO
Nguyễn Vy Khanh
***
Công trình này do Nguyễn Publishing, Toronto xuất bản 2023. Tủ Sách Nước Mặn-Quy Nhơn in lại 2024

***
Mục lục
Dẫn nhập 09
I- Tổng-quan
Vài nét tổng quan 21
Ngược dòng thời gian 29
Những dòng văn-học Công-giáo 33
Vài nét riêng của văn thơ Công giáo:
Các Tuồng Cha Minh / J.M.J. – Tuồng Joseph / Trương Minh Ký – Tuồng Thương Khó / Lm. Nguyễn Bá Tòng – Tuồng Bảy Mối Tội / GM Hồ Ngọc Cẩn 35
II- Từ thế kỷ XVII đến 1865: những bước tiên phong
Thi-ca. 51
Lm. Lữ-Y Đoan (1613-1678) 52
Inê tử đạo vãn (1838) 57
Phép Giảng Tám Ngày 61
Bento Thiện 64
Lm. Philiphê Bỉnh (1759-1833) 67
Lm. Philiphê Phan Văn Minh (1815-1853) 70
Lm. Đặng Đức Tuấn (1806 – 1874) 73
III- Từ 1865 đến 1954:
văn học chữ quốc ngữ từ những bước đầu đến hiện-đại
Phạm Trạch Thiện (1818-1903) – Lm. Trần Lục (1825-1899) – Trương Vĩnh Ký (1837-1898) – Huình Tịnh Paulus Của (1830-1908) – G.M. Hồ Ngọc Cẩn – Lm. Nguyễn Văn Thích (1891-1978) – Hàn Mạc Tử (1912-1940) – Lm. Lê Thiện Bá – Hồ Dzếnh 78
Văn xuôi 112
Nguyễn Trọng Quản (1865-1911) – Charles Ngọc Minh – Jacques Lê Văn Đức (1887-1947) – Hy Chính – Nguyễn Văn Hưng Thạnh – Cung Giũ Nguyên (1909-2008) – Nguyên Hồng – Thuỵ An Hoàng Dân (1916–1989)
IV- Thời 1954 đến 1975 trong Nam: tự do và khai phóng
Thi-ca 136
Quách Thoại (1929-1957) – Phạm Đình Tân (1913 -) – Pierre Đỗ Đình (1907-1970) – Bàng Bá Lân (1912-1988) – Lm. Gérard Gagnon (1914 – 1994) – Lm. Vũ Đức Trinh (1922-1964) – Xuân Ly Băng (1926 – ) – Lm. Trăng Thập Tự (1947-) – Nhất Tuấn – Lệ Khánh – Trần Vạn Giã (1945) – Lê Đình Bảng – Khải Triều (1936) – Trần Thy Nhã Ca (1939- ) – Nguyễn Quốc Thái (1943-)
Văn xuôi 174
Nguyễn Duy Diễn (1920-1965) – Nguyễn Thạch Kiên (1926-2008) – Lm. Vũ Đình Trác (1927-2003) – Lm. Nguyễn Duy Tôn (1919-1976) – Bùi Hoàng Thư – Thảo Trường (1938-2010) – Nguyễn Ngọc Lan – Lm. Trần Tam Tĩnh
Học thuật, tư tưởng 182
Lm. Bửu Dưỡng (1907–1987) – Lm. Cao Văn Luận (1910-1986) – Lm. Nguyễn Phương (1921-1993) – Lm. Lê Văn Lý (1913-1992) – Lm. Thanh Lãng (1924 – 1988) – Lm. Đỗ Quang Chính (1929-2012) – Nguyễn Nam Châu (1929 – 2005) – Trần Thái Đỉnh – Trần Văn Toàn – Lê Tôn Nghiêm – Lê Thành Trị – Nguyễn Văn Trung – Lý Chánh Trung – Lm. Hoàng Sĩ Quý – Phạm Việt Tuyền (1926 – 2009) – Phạm Đình Khiêm – Hoàng Xuân Việt (1930-2014) – Võ Long Tê (1927-2017) – Đức Ông Trần Văn Hiến Minh (1919-2003) – Lm. Vinhsơn Bùi Đức Sinh
Nhà in sách báo Công-giáo 227
Báo-chí Công-giáo 256
Các ấn bản Kinh Thánh 269
Sơ kết 272
V- Văn học Công giáo Việt Nam sau năm 1975
Trong nước sau 1975: từ ốc đảo đến hội nhập
Báo chí 276
Sinh hoạt văn-học
Lm. Nguyễn Xuân Văn (1922-2002) – Lm. Trăng Thập Tự- Lê Đình Bảng – Cao Huy Hoàng (1956 -) – Lý Thụy Ý – Bùi Chí Vinh – Khải Triều – Trần Vạn Giã – Nguyễn Quốc Thái – Trần Mạnh Hảo – Mạc Tưởng – Lm. Ngô Phúc Hậu – Song Nguyễn – Lm. Nguyễn Đức Thông – Trần Duy Nhiên – Lm. Nguyễn Hưng (1927-2010) – Vũ Văn Kính – Lm. Hoàng Sỹ Quý – Bùi Công Thuấn – An-tôn Lê Quang Trình – Lệ Hằng (Lê Thị Lệ Hằng) 279
Các công trình sưu tập, tuyển chọn 346
Các Hội thảo và giải Văn học 349
VI- Văn-học Công-giáo Việt-Nam ở ngoài nước:
những bước lưu vong và về nguồn
Sinh-hoạt và Nội-dung của Văn-học Công-giáo Hải-ngoại 360
1- Quá khứ: Hà Thúc Sinh – Diễm Châu – Trần Phong Vũ – Nguyên Nhi – Trangđài Glassey-Trầnguyễn – Cao Xuân Lý 362
2– Lưu Vong, lưu đày: Trần Mộng Tú – Hà Thúc Sinh – Trà Lũ – Diễm Châu – Trà Lũ 374
3- Thuyền nhân và tị nạn: Hà Thúc Sinh 381
4- Kẻ Lạ: Hoàng Chính 382
5- Cái Chết: Thảo Trường – Hoàng Chính – Trần Mộng Tú – Nguyễn Khánh Hòa 383
6- Hội nhập: Quyên Di – Lm. Nguyễn Trung Tây – Song Thao – Nguyễn Ngọc Ngạn – Hồ Minh Dũng – Trần Đình Ngọc 388
7- Sống đạo và tâm linh: Thảo Trường – Hoàng Chính – Trần Mộng Tú – Bà Ngô Đình Nhu – Phạm Xuân Thu – B.S. Trần Vỹ – Hà Thượng Nhân – Trần Phong Vũ – ĐHY Nguyễn Văn Thuận – Trần Văn Toàn – Lm. Trần Cao Tường- Lm. Cao Phương Kỷ – Lm. Nguyễn Tầm Thường – Lm. Chu Quang Minh – Lm. Trần Đình Long – Lm. Nguyễn Quốc Hải – Lm. Nguyễn Văn Thành – Trần Công Tiến – Quyên Di – Đường Phượng Bay – Lã Mộng Thường – Nguyễn Ngọc Ngạn – Trần Thu Miên – Khang Lang – Phạm Bá Nha và Tạ Quang Hoàng – Nguyễn Khắc Trình – Hoàng Thị Đáo Tiệp – Kim Xoa – Nguyễn Xuân Vinh – BS Nguyễn Văn Thọ – Lê Phụng – Nguyễn Văn Sâm – Đào Mộng Nam – Du Tử Lê – Nguyễn Tất Nhiên – Nguyễn Bá Cẩn – Liên Thành – Duyên Anh – Nguyên Sa 401
8- Hồi ký: Lm. Cao Văn Luận – Văn Bia – Dương Tử – Hà Thúc Sinh – Hoàng Ngọc Liên – BS Trần Vỹ – Lm. Phan Phát Huồn – Lm. Đinh Ngọc Quế – Lm. Nguyễn Hữu Lễ – Đặng Chí Bình – Võ Đại Tôn – Huỳnh Văn Lang – Bùi Đức Hợp – Nguyễn Đình Thư, bà Tuyết Minh – Tuyên úy Nguyễn và Nguyên Nhung 491
9- Truyện và tiểu-thuyết lịch-sử: Nguyễn Ước – Hồ Minh Dũng – Nguyễn Thạch Kiên – Nguyễn Ngọc Ngạn – Hồ Linh 525
10- Sinh hoạt Văn-hóa, Văn-học, Biên-khảo: Lm. Kim Định – Vương Kỳ Sơn – Trần Văn Đoàn – Lm. Vũ Đình Trác – Lm. Trần Văn Kiệm – Lm. Phan Đình Cho – Nguyễn Khắc Xuyên – Đ.Ô. Trần Ngọc Thụ – Lm. Nguyễn Thái Hợp – Lm. Nguyễn Chí Thiết – Võ Long Tê – Lê Hữu Mục – Lê Văn Lân – Đặng Tiến – Lm. Phạm Đán Bình – Bùi Xuân Bào – Lm. Trương Đình Hoè – Đỗ Mạnh Tri – Trần Văn Cảnh – Lê Đình Thông – Liễu Trương – Đỗ Quang Vinh – Bùi Vĩnh Phúc – Cao Thế Dung – Đỗ Hữu Nghiêm – Đỗ Văn Gia – LS Lâm Lễ Trinh – Lữ Giang Nguyễn Cần – Nguyễn Gia Kiểng – Nguyễn Đức Cung – Nguyễn Cúc – B.S. Phạm Hữu Trác – Mặc Giao – Minh Võ – Nguyễn Đăng Trúc – Nguyễn Lý Tưởng – Nguyễn Nam Châu – Trần Văn Toàn – Nguyễn Văn Trung – Nguyễn Văn Lục – Trần An Bài – Nguyễn Công Bình – Nguyễn Vy Khanh . 533
11- Hiện đại, liên mạng, các trang mạng Internet: Phạm Chi Lan – Mạng lưới Dũng Lạc 636
12- Trẻ: cách tân hoặc truyền thống?: Khải Minh – Trangđài Glassey-Trầnguyễn – Nguyễn Thụy Đan 642
13- Sinh hoạt Báo chí và Xuất bản 652
Sơ kết toàn biên khảo 673
Chú-thích toàn tập 679
Tham khảo 694
***
Nguyễn Vy Khanh
DẪN NHẬP
Trong biên-khảo này chúng tôi cố gắng ghi nhận lịch-sử hình thành và vài đặc điểm của văn-học Công-giáo xét qua sự có mặt và đóng góp cho nền văn-học chữ quốc-ngữ của một số các tác-giả Việt-Nam. Với tựa đề Sơ thảo Văn-học Công-giáo Việt-Nam, chúng tôi tự giới hạn đề tài dấu ấn đạo Chúa trong văn-học chữ quốc ngữ với các tác giả Công-giáo loan báo, sống Tin Mừng cũng như các vị có tác phẩm chịu ảnh hưởng đạo Thiên Chúa – các nhà nghiên cứu hoặc viết văn làm thơ. Vì chủ đích của biên khảo “văn-học Công-giáo”, do đó chúng tôi đã đưa vào và gọi là nhà văn “Công-giáo” trong khi phần lớn chỉ muốn đơn thuần là nhà văn “Việt-Nam” hoặc là người Công-giáo.
Chúng tôi muốn khai phá và nhận định về lịch sử văn học Công giáo Việt Nam như đã xảy ra. Văn học Công giáo Việt Nam dĩ nhiên là thành phần của Văn học Việt Nam vì nền văn học quốc gia này đã và sẽ có những nguồn mạch, dòng chảy, những xu hướng có thể khác nhau nhưng sẽ làm đa dạng và phong phú cho nền văn học chung. Hơn nữa, các văn bản và tác phẩm mà chúng tôi đề cập, phân tích, mang tính văn học / văn học sử và một số đã không nhất thiết phải mang tính sáng tạo văn chương nghệ thuật. Với chúng tôi, văn bản quan trọng và đích thực hơn là tiểu sử bao nhiêu phần trăm Công-giáo.
Trong các tác phẩm chúng tôi đề cập đến, đức tin Công-giáo được thể hiện như nền tảng văn hóa, văn chương cũng như sáng tạo nghệ thuật, ở mặt nổi hoặc trong chiều sâu thẳm căn cốt, tinh túy. Tư tưởng Thiên-chúa giáo đã ảnh-hưởng nhiều đến nhân loại từ hơn hai thiên niên kỷ; các Cựu-Ước, Tân Ước – Kinh Thánh, ngoài những giáo điều căn bản đã còn chứa đựng nhiều ý nghĩa triết học, đạo đức và mỹ học mà các triết gia, tư tưởng gia và cả văn-nghệ sĩ sử-dụng như nguồn ý tưởng và cảm hứng làm nên nhiều tác-phẩm lớn nhỏ của con người ở nhiều quốc-gia trên trái đất này.
Văn-học Công giáo Việt Nam theo thiển ý thường gồm có hai loại tác phẩm:
1- “sách đạo” gồm các tác phẩm giáo lý, tu đức, kinh sách về đạo Chúa và
2- “văn học đạo” tức tác phẩm văn chương và học-thuật có nội dung “tải đạo” hoặc chịu ảnh hưởng Công-giáo – hoặc nói khác đi, một hình thức “hội nhập văn hóa” của đức tin. Các tác giả gồm các vị tu sĩ, các nhà thần học và các nhà nghiên cứu, các nhà văn thơ Công-giáo sống đời thường, giáo dân hoặc người ngoài Công-giáo. Nói cách khác, tác phẩm của Văn học Công giáo có tính văn chương/văn học đồng thời có “chất đạo”: Kinh Thánh, về tín lý, không phải là tác phẩm văn chương, nhưng những truyện thơ ca vãn, tuồng, kịch về Tin Mừng thì lại là văn học, văn chương!
Nhà văn Công giáo do đó hoặc sáng tác, hoặc làm nên một tác phẩm Công giáo (Kinh nguyện, Vãn, Gẫm, …) tuân theo giáo lý, tư tưởng thần học, mỹ học – những suy niệm, chia sẻ về đức tin, về sống đạo, với mục đích rao giảng Tin Mừng, hoặc sử dụng các thể loại văn chương (Truyện, Tuồng, Thơ, Bút ký – cả âm nhạc,…) như một đối thoại hoặc lời kinh lời thơ có nội dung nhà Đạo, dùng sáng tác để dẫn đường vào tâm linh, loan báo Tin Mừng và đem Thiên Chúa đến với tha nhân.
Biên giới Đạo và Văn nhiều khi không dễ phân định và hai bên lấn nhập thường xuyên. Kinh nguyện, Gẫm, … sử dụng các thể loại văn chương Thơ, Truyện, Truyện thơ, rồi cùng các thể loại Tuồng, Kịch, Tiểu thuyết lịch-sử, … hiển nhiên hoặc ngầm ý chuyển tải Tin Mừng, sống đạo,… Hoặc có sách nói về việc đạo nhưng lại được viết ra như sáng tác văn chương. Kinh Thánh là lời nhập thể bằng tiếng nói thì Hạnh các Thánh dùng văn để tôn vinh, nhắc nhớ, tự thuật chuyện các Thánh mà lời các đấng nhập thể bằng xương thịt và từng hiện diện trên trần gian.
Mặt khác, các sáng tác văn chương được xuất bản là để đến với độc giả bình thường nhưng tính nhân-bản và đạo đức phổ quát của nội dung hoặc của các nhân vật lại trở thành như “công cụ” phổ dương đạo Chúa – có thể nói chung đến giá trị Công giáo. Viết du ký chẳng hạn, kể chuyện hành hương tức là vừa đi vừa suy niệm, đi để nhìn, để học hỏi; từ cuộc hành hương tìm Chúa, qua con người, ở những địa danh không hẳn phải là đất Thánh – Jacques Lê Văn Đức cũng như Lm. Nguyễn Tầm Thường đã đi nhiều nơi và đã tìm lại được mình, đã nghe được mình, đã thêm dấu chứng về ơn sủng, về đức tin, về Chúa. Trương Vĩnh Ký trong Bất Cượng Chớ Cượng Làm Chi đã để cho nhân vật bàn những lý lẽ làm người đạo đức. Nguyễn Trọng Quản đưa sám hối vào truyện Thầy Lazarô Phiền, Hàn Mạc Tử đặt niềm tin và hướng về Chúa và Mẹ Maria. Cũng là trường hợp của hầu hết các nhà văn Công-giáo thời đầu – một số như đã được mặc khải của Thiên Chúa khi đặt bút biến “lời” thành con chữ, câu văn, lời thơ hay nốt nhạc! Cũng có nghĩa là khi con người “hiện đại” hơn, “máy móc” hơn, “lời” sẽ đến khó hơn.
Từ những nhận xét trên, chúng ta có thể minh định hay tìm ra những đặc điểm của một nền văn học Công-giáo khiến khác biệt với văn học tôn giáo chung chung cũng như văn học nghệ thuật thuần túy. Chúng tôi thiển nghĩ có thể nói đến các đề tài, các thể loại hình thức, nội dung và một số nguyên lý (cứu cánh) của văn-học Công-giáo. Xin đan cử Tác Phẩm Đầu Xuân, một tuyển tập văn thơ của các cây bút đa phần Công giáo, do Tủ sách Nguyễn Hà xuất bản năm 1944, với các tác giả Hồ Dzếnh, Bùi Hiển, Đoàn Văn Cừ, Phạm Đình Khiêm, Bàng Bá Lân, Nguyễn Duy Diễn, Lưu Thị Hạnh, Lê Minh Thu, Phạm Văn Lựu và Thanh Hải.
Trong Lời Nói Đầu, ban biên tập cho biết: “Tác phẩm đầu xuân đến tay các bạn trong những ngày đẹp đẽ nhất. Đó không phải là tập sách của một nhóm người, mà là của cả một Lý Tưởng xây dựng trên Tôn Giáo, trên Tình Yêu.
Cái hoài bão rộng lớn, vài chục trang chỉ có thể sơ phác và khiến người đọc suy rộng đến. Nhưng chúng tôi đã lo lắng bao nhiêu! Bạn đọc sẽ nghĩ thế nào khi rơi vào tay các bạn cái món quà văn chương thanh nhã này làm bằng sự tận tâm và lòng thờ kính Chúa?
Chúng tôi biết rằng nếu không phác ra con đường đi, dẫu chỉ phác ra, sẽ không bao giờ đến kết quả. Chúng tôi biết rằng, rồi ra bao nhiêu công trình bền vững, rạng rỡ sẽ được đặt dưới chân Chúa, sẽ được xem như là những tác phẩm xứng đáng nhất của văn chương Việt Nam…” (1).
Những hoài bão văn chương cần thiết lúc mà văn học Việt nói chung đã bắt đầu rời bỏ lãng mạn trái mùa và dấn bước vào con đường hiện đại thực tế hợp tâm tình con người mới.
Từ trước đến nay, người đọc văn chương Công-giáo thường gặp những đề tài về đạo Công-giáo, về đời sống tín ngưỡng cũng như những đề tài về tội lỗi, lỗi lầm gây đổ vỡ và hậu quả: Thầy Lazarô Phiền của Nguyễn Trọng Quản cũng như Một Người Vô Dụng của Cung Giũ Nguyên trình bày tâm lý của tội lỗi và sám hối. Đức tin cứu rỗi con người, đời sống đạo của người Công-giáo là một đề tài cũng thường gặp. Các tiểu thuyết của Lm. Nguyễn Duy Tôn, Đường Phượng Bay, … hay Một Tuổi Thơ Văn của Nguyên Hồng và Xóm Đạo của Nguyễn Ngọc Ngạn, ở những thời điểm và không gian khác nhau, đã nêu vấn đề tôn giáo ở xã-hội Việt-Nam, đã trình bày đời sống đạo và các sinh hoạt hội nhập của những người Công giáo, v.v.
Một đề tài thường gặp khác là tình yêu và khi có đức tin thì tình yêu thăng hoa (kinh nghiệm Hàn Mặc Tử, Lệ Khánh, Nhất Tuấn,…). Tình còn là tình người: đối xử với nhau không là địa ngục mà như với chính mình và tình đi từ bản chất nguyên gốc con người.
Về đề tài giáo dục, sau (Phêrô) Phạm Đình Tân với truyện Duy Đức, chúng ta có nhà văn Quyên Di tác-giả nhiều truyện và tiểu-thuyết xã hội, giáo dục, hướng thượng (cùng một số tác giả khác từ tạp chí Tuổi Hoa, …). Khác với sách giáo khoa, các truyện thơ thuộc đề tài giáo dục mang ý tưởng luận đề và giáo dục như một nguyên lý của văn-chương.
Các nhà văn Công-giáo thời đầu thường nói đến những khó khăn của người theo đạo Chúa phải đương đầu với một xã hội và guồng máy chính trị “đối nghịch”, với những tín ngưỡng không “thuận hảo”, v.v. Đó là những vấn đề “hôm nay” của thời đó. Từ cuối thế kỷ XX dần hiện ra những vấn nạn khác. Tâm linh là một trong những đề tài “hiện-đại” nhất. Lý do đầu tiên ai cũng biết đó là thế giới càng tiến bộ về vật chất và kỹ thuật thì càng để lộ khiếm khuyết về tâm linh; con người càng văn minh và đầy đủ vật chất thì càng có nhu cầu về tâm linh, và nhu cầu này phát xuất ở nhiều lứa tuổi. Một số giải pháp tâm linh “hợp thời” ngoài đạo đã hơn một lần lôi kéo người Công-giáo – như trường hợp người Việt lưu vong sau biến cố 30-4-1975, vào thời đầu một số khuynh hướng “tâm linh” này đã lôi kéo cả người Công giáo.
Chúng ta có thể nói đến một truyền thống tâm linh Công giáo với các nhà văn Công giáo (kể cả các vị tân tòng), với những tác-phẩm (đề tài, bối cảnh) và nghệ thuật của họ, nhưng về nội dung và nguồn đạo Thiên-Chúa thì có những tác-phẩm bắt nguồn cảm hứng từ tín lý đạo Thiên Chúa dù tác-giả chúng không nhất thiết là tín đồ đạo như Trương Minh Ký cuối thế kỷ XIX cũng như những Nhật Tiến, Du Tử Lê, Nguyễn Viện, Nguyễn Đình Chính, Tạ Duy Anh, Đỗ Minh Tuấn,… thế kỷ XX hoặc trở lại đạo Chúa khi đã lớn tuổi – họ, như kiếm tìm về một nguồn tâm linh, tư tưởng có thể đáp ứng được nhu cầu tinh thần và cảm xúc. Thật ra, có một khó khăn khi xác định đặc tính nguồn đạo Thiên Chúa qua các tác-phẩm cũng như các tác-giả, vì nhiều đặc tính đạo đã trở thành phổ quát, của cả nhân loại (công bằng, bác ái, đức tin vào một Thiên Chúa hay Thượng đế, vào đời sau, v.v.), và thứ nữa, một tác-phẩm hay một tác-giả, như Hàn Mặc Tử, nhiều nguồn cảm hứng sáng tác (Thiên Chúa, Phật, Lão, …) và đã được nhiều “cách nhìn” phân tích khác nhau (triết lý, biểu tượng, lãng-mạn, siêu thực, thơ loạn,…). Đạo vĩnh cữu phải chăng là Nguyên Lý Đệ Nhất và Thiên Chúa Tối Thượng?
Do đó, phân tích nguồn cảm hứng, cơ cấu con chữ, văn bản, đi sâu với văn bản có thể tránh ngộ nhận (tác-phẩm, tác-giả Công-giáo) và giúp ích cho các công tác hàn lâm, học thuật. Và cũng cần lưu ý rằng đạo Công-giáo đã mở rộng vòng tay từ Vatican thứ hai vào thập niên 1960 cũng như đã làm nên tổng thể tín ngưỡng (synchétisme) của văn hóa Việt Nam. Như vậy, có chấp nhận đa dạng, đa nội dung ở một tác-phẩm hay tác-giả thì mới có thể có những khám phá thú vị và hữu ích. Nguồn đạo đòi hỏi tinh túy, nội dung, tạo thành truyền thống, có thể xếp vào lớp này những tác-giả Phan Văn Minh (thánh), Hàn Mặc Tử, Xuân Ly Băng, Trăng Thập Tự, Quyên Di, Đường Phượng Bay, Trần Thu Miên,… cũng như những tác-phẩm dịch thuật, phổ thơ, thánh vịnh, phổ thông hóa, v.v. như Sấm Truyền Ca của Lữ-Y Đoan, Vè của Trần Lục, hoặc của Phạm Xuân Thu, BS Trần Vỹ, v.v. Thánh Kinh từ nhiều thế kỷ đã là nguồn mạch văn hóa và văn-chương của nhân loại. Các tác-giả Việt Nam về mặt này cũng không ra ngoài nguồn mạch vô tận đó: đức Ki Tô, những sứ điệp, Tin Mừng, mầu nhiệm, các nhân vật Cựu Ước, Tân Ước, Đức Maria, v.v., đã là những tứ thơ văn và đề tài quen thuộc.
Đề tài đủ chiều kích như vậy, cho nên các văn-nghệ sĩ không sợ lập lại, mà chỉ sợ không đủ khả năng sáng tạo, diễn tả cần thiết và đến được với người thưởng ngoạn, qua một văn bản, kịch bản hay bức tranh và nhạc bản!
Biên khảo của chúng tôi đi tìm dấu ấn đạo Chúa trong văn-học chữ quốc ngữ, do đó khởi đi từ những văn bản tiếng Việt do người Việt sáng tác, biên soạn với vài ngoại lệ cho những tác phẩm chữ Nôm (còn được gọi là “Nôm đạo” (2) đã được chuyển sang chữ quốc-ngữ như Sấm Truyền Ca. Xin mở dấu ngoặc: chúng tôi viết về văn học Công giáo bằng chữ quốc-ngữ tức tiếng Việt được Latinh hóa mang thêm tính biểu âm qua các dấu thanh điệu ´ ` . ? ~, do đó các thời điểm có thể không đồng nhất với lịch sử chữ quốc ngữ.
Về chuyện ngôn ngữ – tiếng nói và chữ viết, trong nhà đạo ai cũng biết từ khởi thủy đã có Ngôi Lời: Ngôi Lời đã ở nơi Thiên Chúa, Ngôi Lời là Thiên Chúa và Ngôi Lời đã làm người. Triết gia Martin Heidegger thì cho rằng “Ngôn từ là ngôi nhà ở của con người (hữu thể). Chính ở đây con người lập mái nhà cho mình. Nhà tư tưởng và nhà thơ là người canh gác ngôi nhà ấy” ( Le langage est la maison de l’Être. Dans son abri, habite l’homme”). Ngôn ngữ thành “trò chơi” kiến tạo ngôi nhà! Những nhà văn Công-giáo tiền phong khi sáng tác và biên soạn các tác phẩm bằng chữ quốc-ngữ đã muốn Việt hóa đạo Chúa và dân Chúa tức hội nhập vào xã hội Việt, đồng hành qua chữ viết và cách diễn đạt – ngoài chữ viết văn xuôi các vị ấy còn sử dụng thể vè và lục bát của đại chúng viết kinh sách, vãn, v.v. Văn học Công giáo với những nhân vật nhà tu và ngôn-ngữ của nhà Chung do đó có thể đã bị tưởng là chuyện nhà đạo. Tiếng Việt bị gán là tiếng “nhà thờ” đó thực ra là tiếng Việt của thời đó – Truyện Thầy Lazarô Phiền đã là bằng chứng cụ thể nhất!
Đến gần cuối thế kỷ XX, kinh nghiệm của người Việt hải ngoại cũng trội bật rõ rệt: khi không còn lãnh thổ, người Việt đã và sẽ sống trong một ngôn ngữ. “Ngôi nhà” là năm châu, tức xa cách nhau về địa lý, nhưng người Việt lớp sau tiếp nối lớp trước, rồi thế hệ thứ 2, thứ 3,… làm nên một nền văn-học viết bằng tiếng Việt ở hải-ngoại rất đỗi phong phú, đa dạng, đa văn hóa, và nhất là tự do, khai phóng bên cạnh những sinh hoạt văn học hội nhập với ngôn ngữ bản xứ của các thế hệ tiếp nối!*
Ngay khi chữ quốc ngữ được chính thức sử dụng (1865 Gia Định Báo và in ấn, xuất bản, trước khi được nhà cầm quyền Pháp ở Việt Nam qua Phó Đề đốc Marie Gustave Hector Ohier ra nghị định “bắt buộc dùng chữ Quốc ngữ thay thế chữ Hán” trong các công văn ở Nam kỳ ngày 22-2-1869 và vua Khải Định chính thức ra đạo dụ ngày 28-12-1918 chính thức bãi bỏ khoa cử nho học và năm 1919, khoa thi Hương cuối cùng được tổ chức) vào nửa cuối thế kỷ XIX, người Công-giáo đã là những nhà báo, nhà văn tiên phong khởi đi những bước đầu làm nên nền văn học chữ quốc ngữ được tiếp nối và hình thành như ngày nay. Thế kỷ XX tiếp theo ghi nhận sự đóng góp của nhiều tác-giả Công-giáo khác, khi chữ quốc ngữ đã trở nên phổ thông, tóm lại đã cung cấp cho văn học Công giáo nhiều tài năng và tác phẩm đáng kể. Sang qua thế kỷ XXI, sinh hoạt văn học của người Việt ở ngoài nước chậm lại và bị “lão hóa” trong khi ở trong nước các sinh hoạt tôn giáo, văn hóa từ co cụm kiểu “ốc đảo” đã sinh động hơn, cởi mở hơn, các nghiên cứu, biên khảo cùng các tác giả văn nghệ trè ngày càng nhiều hơn và tự tin hơn. Nhìn chung, từ cuối thế kỷ XIX đến nay nhiều tài năng và tác-phẩm đáng kể đã và tiếp tục dựng xây và đóng góp cho văn học Công-giáo Việt-Nam.
*
Sau phần Tổng quan lược sử về Văn học Công giáo Việt-Nam, chúng tôi sẽ đề cập đến 4 thời kỳ nghiên cứu trong 6 chương:
– Từ thế kỷ XVII đến 1865: những bước tiên phong;
– Từ 1865 đến 1954: văn học chữ quốc ngữ từ những bước đầu đến hiện-đại;
– Thời 1954 đến 1975 trong Nam: tự do và khai phóng;
– Trong nước sau 1975 đến nay: từ ốc đảo đến hội nhập;
– Văn-học Công-giáo Việt-Nam ở ngoài nước: những bước lưu vong và về nguồn.
Sinh sống ở miền Nam vĩ tuyến XVII rồi thiên cư ra ngoài nước từ năm 1975, do đó chúng tôi chỉ phác thảo phần ngoài Bắc những năm 1954-1975 và cả nước sau 1975, vì chúng tôi khó có thể khách quan và có đầy đủ văn tư liệu để tham khảo. Mặt khác, cách phân chia các giai đoạn văn học Công-giáo của chúng tôi khá tổng quát, độc giả có thể tham khảo các biên-luận của các nhà nghiên cứu Võ Long Tê (Lịch sử Văn học Công giáo (3)), Lê Đình Bảng (Văn học Công giáo Việt Nam-Những chặng đường (4)) và Bùi Công Thuấn (Văn Học Công Giáo Việt Nam Đương Đại (5)). Ngoài ra, chúng tôi ghi nhận sách báo chính thức (có phép của giáo quyền, chính quyền) cũng như loại bán chính thức, in roneo hoặc phổ biến hạn chế, miễn là đã được “xuất bán”, “phát hành” ra nơi công cộng – theo nguyên nghĩa của “public, publication”.
Ý tưởng và động lực thúc đẩy chúng tôi hoàn thành tập biên khảo này khởi động khi góp phần sưu tập các nghiên cứu và bài viết cho bộ Hướng Đến 400 Năm Văn Học Công Giáo Việt Nam (1632 – 2032) do linh-mục Trăng Thập Tự chủ biên (6). Nhận thấy thật sự có nhu cầu đối với việc nghiên cứu và phổ dương văn học Công-giáo Việt Nam, chúng tôi đã biên soạn lại, cập nhật và bổ túc thêm bài mới đưa đến việc xuất bản tập sách này trong tinh thần khai phóng, nhân bàn và đức tin. Công trình của chúng tôi là một sơ thảo văn học sử, một đóng góp, gợi ý, về một số khía cạnh hơn là toàn cảnh Lịch sử Văn học Công giáo cũng như Văn học nước Việt-Nam. Chúng tôi mong đợi những chỉ giáo, góp ý cũng như nhận xét, phê bình, để lần tái bản biên khảo sẽ hoàn thiện và đầy đủ hơn.
Chúng tôi hy vọng toàn bộ biên khảo này sẽ cất tiếng đồng thanh với các nhà nghiên cứu khác để kết luận rằng có một nền “Văn học Công-giáo Việt-Nam” trong lòng dân tộc Việt và đạo Chúa! Văn học Công-giáo chữ quốc-ngữ cũng đã mở đường và góp phần hiện-đại hóa văn học Việt nói chung về thể-loại văn chương và nội dung nhân bản, dân tộc cùng làm nên một tổng hợp tư tưởng nghệ thuật mới!
Quê người, cuối Xuân 2023
