Truyện ngắn: CHUYẾN XE VỀ TRỜI | Chương Mười
Truyện ngắn: CHUYẾN XE VỀ TRỜI | Chương Mười
Tác giả: Song Nguyễn
10. CON MẸ…ĐÂY
Màn đêm cứ mỗi lúc một mờ dần, trả lại bầu trời trong sáng cho con người. Trong bầu không khí mờ nhạt này, sinh hoạt của khu chợ đã bắt đầu. Những bạn hàng đến sớm khe khẽ trao đổi với nhau về công việc làm ăn và những biến chuyển trong đêm. Câu chuyện cứ mỗi lúc một lớn dần theo với số người có mặt. Đoàn xe ba gác từ các nơi chở đồ đến chợ cũng góp phần huyên náo khu chợ. Tiếng bánh xe cót két, tiếng thắng xe lật bật, tiếng la lối làm hiệu cho người qua lại để lấy lối xe đi… Thêm vào đó, mấy người công nhân gác chợ bị âm thanh quen thuộc buổi sáng đánh thức dậy. Mở mắt ra là bắt đầu la lối ồn ào cùng những vấn đề thường ngày .
Người công nhân xe ba gác dừng lại trước quầy hàng tạp hóa. Hai mẹ con bà chủ tiệm bước xuống xe. Bà chủ còn trao đổi với anh công nhân, cô con gái nhảy xuống xe là đi thẳng lại cửa tiệm mở cửa. Bỗng cô hét thất thanh rồi giật lùi lại đàng sau: “Có ai nằm ngang cửa”. Bà mẹ đang trao đổi với anh công nhân cũng giật thót mình lên. Bà hốt hoảng kêu lên: “Chết cha! Cái gì vậy”. Người con gái cố lấy lại bình tĩnh nói nhỏ hơn, nhưng vẫn chưa hết run: “Có ai nằm ở cửa”. Bà mẹ đeo vội cái túi da vào vai rồi lật đật lại cửa quan sát. Người con gái vẫn cứ đứng yên chỗ hồi nãy, lui ra để theo dõi cách đối phó của bà mẹ. Người đàn bà lò dò bước tới gần cửa, cúi xuống quan sát, khẽ dậm chân, miệng nói: “Ai ngủ đây, dậy cho người ta mở cửa”. Đợi một lát không thấy động tĩnh, người đàn bà sốt ruột quay ra nói với người con gái:
– Lấy cái đèn pin cho mẹ coi nào!
Người con gái “ờ” một tiếng, nhớ ra, vội mở túi xách lấy đèn pin cho mẹ, vừa trao vừa nói:
– Ờ, thế mà con quên đó!
Người đàn bà cầm đèn pin đẩy công tắc tới lui hai ba lần, đèn vẫn không sáng, bà càng sốt ruột hơn cằn nhằn:
– Đèn đuốc gì kỳ vậy!
– Má đưa con coi! – Người con gái tiến lại đứng bên má vừa giơ tay nắm lấy đèn pin vừa nói.
Sau một lát vặn lui vặn tới chóa đèn, ánh sáng vọt ra, người con gái chiếu vào bóng người nằm chắn ngang cửa, miệng nói:
– Có người ngủ.
Người đàn bà cúi xuống đập bộp bộp vào vai người ngủ, la bai bải:
– Dậy cho người ta dọn hàng! Ngủ nghê gì mà mê mệt vậy!
Người ngủ giật thót người lên, vừa mở mắt ra, vội nhắm lại vì ánh sáng của cây đèn pin, miệng ú ớ:
– Dạ! Dạ! Xin bà khoan cho cháu một phút để tôi nâng bé dậy!
Người đàn bà vừa ra lệnh cho con, vừa nói với người thiếu phụ:
– Tắt đèn đi, con!… Chị mới sanh hay sao?
Người thiếu phụ giọng yếu đuối mệt mỏi nói:
– Dạ! Cháu mới sanh được một tuần!
– Mới được một tuần!
Người đàn bà nhắc lại, rồi nói giọng thông cảm:
– Một tuần mà sao đã đi ngủ lang bang như thế này mà không sợ sương gió sao?
– Cháu đâu có muốn, nhưng hoàn cảnh của cháu không làm khác được.
Sau một phút thông cảm, người đàn bà lại hối:
– Nào! Mau chị vực cháu dậy cho tôi dọn hàng kẻo trễ rồi.
Người thiếu phụ tung tấm vải nhựa che mình, nhổm dậy để lộ đứa bé đỏ hoe bọc trong tấm khăn tắm cũ. Đứa bé bị lạnh bất thình lình khóc thét lên, người thiếu phụ vội ôm chầm lấy bé ghì sát vào ngực nựng: “Ơ! Ơ! Nín đi, con!”, rồi một tay ôm con, một tay quơ ba cái đồ rải rác gọn lại.
Người con gái sau một hồi yên lặng theo dõi, reo lên:
– A! Bé xinh quá há! Trai hay gái vậy, chị?
– Gái…, cô!
Như chưa vừa ý, người đàn bà lấy chân đẩy mấy cái đồ lỉnh kỉnh của người thiếu phụ xa ra, rồi giục con:
– Mở cửa mau lên, con! Trễ rồi!
Người thiếu phụ đoán được ý chủ muốn tống cổ chị đi cho rảnh, nhưng thiếu một điều là bà ta chưa nói thẳng ra. Nhưng đi đâu bây giờ? Trước mắt người thiếu phụ như tối sầm lại, mặc dù ánh sáng đã tỏ mặt người. Chị ngơ ngác nhìn đám người mỗi lúc mỗi đông vây kín lấy mẹ con chị. Chị lắc đầu thở dài, hết nhìn con đến nhìn bóng những người qua lại để cố kiếm một chút tình thương. Nhưng tất cả đều xa lạ, xua đuổi. Người thiếu phụ cúi sâu lấy ống quần chậm mấy giọt nước mắt vừa trào ra. Ngẩng đầu lên, chị rề rề lui vào tận góc, cố gắng không để khách hàng phải vướng vít vì chị.
Nhưng rồi đứa bé tỉnh ngủ, nó khóc thét lên đòi bú. Người thiếu phụ quên hết mọi sự, kể cả nỗi khổ tâm chị đang phải đối phó. Chị vạch áo đưa vú vào miệng đứa bé. Đứa bé núm lấy để gần như muốn nuốt trọn cả bầu vú của mẹ. Nhưng chỉ được vài phút đứa bé bỏ vú mẹ, nó lại khóc. Người thiếu phụ vừa nựng con vừa trở đầu đứa bé đổi sang vú bên kia. Chị vạch nốt cái vú còn lại để lộ bộ ngực ốm yếu, những đường gân xanh hiện rõ trên cặp vú lép xẹp. Đứa bé lại ngậm lấy vú mẹ cố mút lấy sự sống còn lại trong người mẹ. Nhưng cũng như hồi nãy, chỉ trong ít phút đứa bé lại nhả vú mẹ ra khóc thét lên. Lần này người thiếu phụ tái xanh mặt đi, nước mắt chị trào ra, miệng ú ớ nựng con… Cử chỉ tuyệt vọng của người thiếu phụ đã gây được sự chú ý của mấy người giàu tình cảm.
Người con gái bà chủ tiệm tạp hóa quay hỏi mẹ;
– Sao đứa bé nó khóc quá vậy, mẹ, ý nó…
Cô len lén nhìn mẹ, chắc cô muốn bầu cử ân huệ cho người thiếu phụ, nhưng không dám nói ra vì sợ… cái tính kiêng kị của người mẹ: sáng sớm mà gặp kẻ khó là xui nên cô chỉ nói ậm ự vậy. Còn bà chủ tiệm hẳn là bực bội vì sự hiện diện “xui xẻo” của người thiếu phụ, nên mặt bà xụ hẳn xuống. Nghe người con gái hỏi, bà không trả lời, hất mắt nhìn người thiếu phụ. Bà hằn họïc nhìn chị, rồi khi đã quan sát người thiếu phụ với con mắt chuyên môn của các bà mẹ, bà hỏi người thiếu phụ:
– Chị không có sữa hả?
Người thiếu phụ ngước mắt nhìn lên, nước mắt còn chạy tròn mi mắt, chị mếu máo trả lời:
– Dạ! Cháu mất sữa mấy bữa nay.
Sau một hồi cau có suy nghĩ, bà chủ tiệm chép miệng nói:
– Con lấy cho chị ta gói bột Bích Chi đi.
Nói với con xong, bà lầm bầm:
– Hôm nay chắc là làm ăn không khá được, mới sáng sớm đã xui rồi…
Người con gái cầm gói bột trao cho người thiếu phụ, rồi còn đứng tần ngần như muốn trao đổi với chị. Nhưng rồi bà chủ đã phá vỡ ý định ấy, bà gọi con bảo:
– Tư vào coi hàng cho má, để má chạy về nhà có chuyện chút đi.
Người con gái vội quay gót vào trong tiệm. Gặp con, bà chủ trợn mắt nhìn con hỏi nhỏ:
– Con có đưa cái ấy ra không?
Người con gái đứng ớ, ngơ ngác nhìn mẹ không hiểu mẹ hỏi gì. Người đàn bà bực mình nói:
– Thôi coi hàng cho tao. Coi cẩn thận đừng có lơ là trộm cướp như rươi đó.
Câu sau bà cố nói to lên như để nhắc nhở con bà, mà cũng có thể để cho những người nghèo khó như người thiếu phụ đang ngồi ở góc tiệm nghe thấy.
Đến lúc đó, người con gái mới hiểu vấn đề bà mẹ muốn hỏi cô. Cô trả lời:
– Có phải mẹ hỏi thùng sữa Thái Lan hả.
– Còn gì nữa!
– Dạ! Con nhớ chứ, nhưng con tưởng mẹ để dành…
– Thôi được, coi tiệm lát tao ra.
Nói rồi bà chủ tiệm đon đả bước đi. Nhìn bóng mẹ đi khuất, người thiếu nữ lại ngó đến người thiếu phụ co ro nựng đứa bé đang khóc ngất. Tần ngần một lát, ngó trước ngó sau không thấy ai chú ý, cô mở thùng lấy một hộp sữa, rồi bước vội lại chỗ người thiếu phụ. Cô giúi hộp sữa vào túi vải nhựa của người thiếu phụ, khẽ nói:
– Biếu chị hộp sữa cho cháu bú!
Người thiếu phụ được ân huệ bất ngờ cũng thất sắc như cô chủ “ăn trộm” sữa mẹ cho vậy. Chị ngước mắt nhìn lên, hai ánh mắt gặp nhau, luồng điện cùng giao thoa. Người con gái bình tĩnh hơn nói với người thiếu phụ:
– Chị giấu đi không có mẹ tôi nghi…
Nói rồi cô chủ lại hớt hải chạy vào trong tiệm, lát sau cô lại ra chỗ người thiếu phụ giúi cho chị một túi giấy nữa, nào mấy gói bột Bích Chi, vài gói đường nhỏ với một cái bình đựng sữa cho trẻ con. Cô nói:
– Biếu chị thêm mấy gói bột nữa. Chị giấu kỹ đi, không má tôi lại nghi cho chị…
Người con gái nói chưa hết câu, người thiếu phụ đã nói:
– Dạ! Tôi hiểu, cô cứ yên trí. Tôi đội ơn cô muôn đời.
– Anh ấy đâu, chị?
– Nhà tôi mới chết.
– Chết sao vậy?
– Gia đình tôi ở ngoài PK cơ. Vợ chồng tôi không có đất nên phải đi vùng kinh tế mới. Nhưng rồi mấy năm nay vợ chồng tôi làm ăn lụi xụi quá không đủ ăn. Thành vì vậy nhà cửa cũng không có, phải ở nhờ ở đợ nhà ông anh họ. Đã vậy chồng tôi vất vả quá lại trúng sốt rét rừng, vừa phần thiếu ăn, thiếu thuốc men nên tôi liệu đưa anh đến nhà thương đây, được ít ngày anh ấy qua đời.
– Chị không có thân nhân sao?
– Có! Nhưng họ hàng xa thôi, và mình nghèo quá, không ai thèm nhìn nữa…
Bỗng có tiếng người hô hoán đàng sau: Kẻ cắp! Ơ! Ơ!… Nghe tiếng quen quen, người con gái giật mình chạy tót vào trong tiệm ngơ ngác nhìn chung quanh chờ đợi biến chuyển. Giữa lúc ấy mẹ cô trở lại tiệm. Người lái xe Honda ôm dựng xe tháo hai thùng sữa để xuống tiệm, rồi dắt xe quay trở ra.
Người con gái nhìn mẹ lo lắng hỏi:
– Cái gì vậy, má?
Người đàn bà vẫn còn hổn hển nói nhát gừng:
– Suýt nữa nó giật cái xách tay của tao!
– Thế mà mẹ…
– Ừ! Phải mày thì còn đó…
Rồi bà hất hàm hỏi con:
– Còn chị ta chưa đi…
Người con gái đổi giọng năn nỉ nói:
– Chị ta tội nghiệp lắm, má à!
Người đàn bà lắc đầu nói gạt đi:
– Thôi! Thôi! Thời buổi này chẳng tin ai được. Ai cũng khổ cũng đáng thương cả! Có mình thì chẳng ai thương!
– Má! Nói vậy…
Nói rồi người con gái nháy mắt làm hiệu cho người thiếu phụ đi.
Người thiếu phụ hiểu ý đứng lên rề rề bồng con đi. Người thiếu phụ đi được mấy bước, bỗng người con gái làm như ngơ ngác sửng sốt chạy theo chị ta vừa bước vừa nói lớn như có ý để má cô nghe thấy:
– Ơ! Chị quên cái này.
Người con gái chạy tới giúi vào tay người thiếu phụ mười đồng bạc khẽ nói:
– Cho cháu bé.
Người thiếu phụ chưa kịp nói gì thì người thiếu nữ đã trở lại rồi. Về đến tiệm, cô hổn hển nói với mẹ:
– Chị ta mới chết chồng đó, má ơi.
– Ôi thôi! Dẹp! Làm ăn không lo, mày toàn lo những chuyện gì đâu.
Người thiếu nữ mất hứng, đứng trân nhìn mẹ…
Cảnh sinh hoạt ở chợ đã bắt đầu tấp nập, kẻ ra người vô, tiếng cười nói mỗi lúc một ồn ào.
Người thiếu phụ bồng con ra khỏi tiệm tạp hóa nhưng mắt vẫn còn hướng về cô chủ tốt bụng. Trong suốt những ngày gần đây, đời chị tưởng như đã xuống đến bùn đen. Làm ăn thất bại, ăn uống túng thiếu, ngày bữa cháo bữa mì, chồng đau lên đau xuống, thuốc men không có, uống bậy bạ mấy lá thuốc nam, bệnh tật của chồng cứ mỗi lúc một tệ. Đã vậy lại bị gia đình ông anh họ khinh miệt ra mặt. Trong khi đó bản thân chị bụng mang dạ chửa. Vợ chồng lấy nhau năm sáu năm chẳng có con cái gì, giữa lúc mọi cái đều bế tắc thì chị lại mang bụng, thành vì vậy đã khổ lại càng cực hơn. Cuối cùng cực không thể hơn được nữa, đành phải vay mượn chở chồng đến nhà thương để may cứu sống. Nhưng rồi người chồng cũng bỏ chị đi luôn. Chồng chết được ít lâu đến lần chị vào nhà thương để sinh con. Nhà thương thương tình cho chị ở đỡ được một tuần là chị phải ra đi. Ra đi không nhà không cửa, lại mẹ yếu con thơ, chị chỉ còn một nơi duy nhất là vỉa hè xó chợ và sự thương hại của những người còn chút tình người. Và đến hôm nay chị mới nhận được tình thương của một người, người con gái của bà chủ tiệm tạp hóa.
Mãi suy nghĩ và bị đoàn người chen lấn, người thiếu phụ bị đẩy xưống cuối chợ lúc nào không hay. Đang định quay gót trở lại, bỗng chị bắt gặp một bà già, có lẽ cũng hoàn cảnh neo đơn như chị vừa từ khu nhà vệ sinh đi ra. Đến gần người thiếu phụ, bà già đó đứng dừng lại ngó đứa trẻ đỏ hoe trên tay mẹ nó. Bà ái ngại hỏi:
– Bao lâu rồi mà đứa bé còn đỏ quá vậy?
– Dạ! Được một tuần.
Người thiếu phụ ngập ngừng nói luôn:
– Nhưng cháu mất sữa…
Người đàn bà gật gù nói:
– Ờ! Thảo nào trông cháu không được khỏe.
Người thiếu phụ thở dài vừa phần thương con vừa phần ngao ngán về số phận của mình. Không ngờ chính bà già cũng thở dài, có lẽ số phận những kẻ xấu số đến gặp nhau chăng.
Người thiếu phụ vừa mới gặp được người tốt, chị vẫn còn phấn khởi, giờ lại gặp được bà già thông cảm với chị. Chị nảy ra ý nghĩ và sau một hồi suy nghĩ, chị nhìn bà cụ năn nỉ:
– Bà có thể cho cháu gởi bé chút được không?
– Lâu mau?
– Dạ! Một lát thôi!
Người thiếu phụ giải thích tiếp:
– Cháu đi kiếm nắm củi về nấu cho cháu miếng bột.
Bà cụ nghe ra, bà ân cần nói:
– Ờ! Đưa “qua” giữ cho! Đi mau rồi về, kẻo nó mất hơi mẹ là nó khóc, không ai giữ được.
– Dạ! Con cám ơn má ngàn lần!
Gửi đứa bé cho bà cụ, người thiếu phụ cầm cái túi bằng tấm vải nhựa áo mưa cũ kỹ lượm được ở đống rác đi lẫn vào dòng người mua bán ở chợ. Ra khỏi chợ người thiếu phụ đứng tần ngần quan sát một lát rồi quyết định hướng về phía rừng cao su.
Lúc đầu chị chỉ định lượm một ít nhánh đem về nấu cho bé một miếng bột, nhưng rồi khi vào đến rừng, chị thấy cành cao su đổ gẫy ngổn ngang nên chị nảy ra ý nghĩ sẽ lượm một mớ khá hoặc là để thổi, để chia cho bà cụ có lẽ cũng cần củi hoặc có thể bán nếu ai cần để kiếm tiền mua gạo… Càng vào sâu củi càng nhiều, năm bảy đống nho nhỏ nằm rải rác trên những lối người thiếu phụ đi qua. Mãi đến lúc mỏi lưng, người thiếu phụ mới sực nhớ ra sức chị không thể nào mang hết đống củi lớn kia. Tuy nhiên chị cũng hơi ngạc nhiên tại sao củi nhiều như vậy mà không ai lượm. Chị tự an ủi mình: “Hôm nay chắc ông bà phù hộ mình hay sao, từ sáng tới giờ toàn gặp hên thôi”…
Chị gom năm bảy bó củi thành hai bó lớn cao ngang ngực, mà chỉ sức người đàn ông khỏe mạnh mới gánh nổi. Nghĩ đến đứa con một là của quý nhất trên đời, đến tương lai mà có thể nay là ngày mở đầu bước đi lên ấy, người thiếu phụ trẻ đói khát hàng mấy năm trời, lại đau yếu buồn khổ đến độ mất sữa nuôi con, cố hết sức gồng mình gánh gánh củi cao su đi. Cứ gánh đi lối chừng chục thước người thiếu phụ lại hạ xuống để thở. Hơi thở mỗi lúc một ngắn dần, nhưng người thiếu phụ vẫn không nản, chỉ còn mấy chục thước nữa là ra tới bìa đường, tới đường và từ đây chị sẽ liệu kế.
Người thiếu phụ vẫn kiên nhẫn dồn hết sức chống lại với sức trì kéo của hai bó củi muốn đè bẹp chị. Giữa lúc đó một tiếng hét lớn làm người thiếu phụ ngã chúi về đàng trước, tiếp theo một tiếng hét nữa đánh thức tâm hồn trĩu nặng của chị. Chị cố gượng đứng dậy ngơ ngác nhìn. Từ mé đường hai người vận đồng phục tay nhăm nhăm khẩu súng hét gọi chị:
– Đứng dậy! Gánh gánh củi ra đây!
Người thiếu phụ hiểu sự việc, mặt chị tái xanh luống cuống phản ứng, chị định bỏ gánh củi lại để tiến lại chỗ hai người mang súng. Người vận đồng phục lại hét:
– Gánh cả bó lại đây. Lộn xộn là đừng trách ạ!
Người thiếu phụ miễn cưỡng, lại phải trở lui gồng mình gánh gánh củi lại với hy vọng năn nỉ xin tha.
Nhưng có lẽ hai người vận đồng phục sốt ruột vì sự chậm trễ của người thiếu phụ, nên một người lững thững đi về phía người thiếu phụ để thúc chị đi mau hơn.
Khi người vận đồng phục tiến lại gần, người thiếu phụ kịp nhận ra anh là người du kích gác rừng, chị đặt bó củi xuống đất năn nỉ:
– Anh tha cho tôi lần đầu. Tôi không biết!
– Thôi đi chị, chẳng lần đầu lần cuối gì hết. Cái bản mặt chị ai còn xa lạ gì! – Người du kích lạnh lùng nói.
– Xin lỗi anh, anh nhìn kỹ lại tôi. Anh thông cảm cho tôi lần đầu.
– Chị đừng ngoan cố! Mời chị vào cơ quan rồi chị sẽ biết.
Thấy coi bộ khó năn nỉ, người thiếu phụ làm lì. Chị nói:
– Tôi không đi đâu nữa. Mấy cậu có bắn tôi cứ bắn đi.
Người du kích đâu có chịu nhượng bộ, anh sừng sộ giơ súng lên trời lên đạn kêu roạt roạt. Anh ra lệnh:
– Chị có đi không?
Người thiếu phụ còn đang lưỡng lự. Vẫn đang tư thế hướng súng lên trời, anh bấm cò, tiếng súng nổ thật chát chúa. Người thiếu phụ tái mặt đi, toàn thân chị run bắn lên, có lẽ tiếng súng – thứ vũ khí chết chóc làm cho người thiếu phụ hoảng hốt. Chết có lẽ đối với chị không quan trọng, vì trong suốt thời gian con gái vừa qua chị đã chết dần chết mòn vì đau khổ, bây giờ có chết ngay lại là một giải thoát, nhưng còn đứa con của nàng! Con nàng cần phải sống… nó vô tội! Nó không thể sống mà không có mẹ!! Nghĩ đến con, người thiếu phụ lại líu ríu làm theo lệnh anh du kích.
Phải khó khăn lắm và phải có sự trợ giúp của người du kích, người thiếu phụ mới đem nổi gánh củi về trụ sở của cơ quan.
Trong cơ quan, ban đầu người thiếu phụ cung khai rành mạch hoàn cảnh riêng của chị, nhưng nhân viên điều tra không nhận lời khai đó vì đã quá nhiều trường hợp không đúng như lời khai. Bị bác lời khai cộng thêm những lời ngăm đe, người thiếu phụ đâm liều; người ta nói gì, buộc gì chị nhận hết, miễn sao mau được thả về với con. Tuy nhiên đâu có phải cứ nhận tội là dễ dàng được tha, nhân viên cũng còn thẩm định lại lời khai, đàng khác còn phải làm gương cho người khác, vì theo lời nhân viên điều tra thì gần đây cơ quan đã bị kẻ phá hoại làm thiệt hại nhiều. Thế là người thiếu phụ bị dẫn vào nhà giam.
Trong thời gian bị giam, người thiếu phụ gần như người mất trí, hết khóc lại cười, chạy lui chạy tới để tìm con. Gặp ai chị cũng lạy để xin trả con cho chị. Đang đêm chị bò dậy khóc rống lên như con chị đã chết đang nằm trước mặt chị vậy…
Thấy hoàn cảnh của người thiếu phụ có phần đúng với lời khai ban đầu, đàng khác thấy tình trạng báo nguy tâm trí và thể xác của người thiếu phụ. Ban quản trị và cả can phạm cùng giam chung với người thiếu phụ nhất trí trả tự do cho chị.
Khi người thiếu phụ được đưa từ trại giam đến bàn giấy cơ quan và khi nhân viên tuyên bố trả tự do cho chị, việc làm thủ tục chưa xong thì người thiếu phụ đã vùng chạy thoát ra ngoài, rồi chị cắm đầu chạy như bay ra ngoài lộ. Ra đến ngoài đường lộ, hình như đã kiệt sức, chị gục xuống bên đường để thở. Có tiếng chân người đuổi theo, chị lại vùng dậy. Chị định chạy nữa, bỗng chị thấy chiếc xe lam chở khách đậu lại cho một người khách xuống. Chị vội vàng trờ tới, quì xuống lạy thùm thụp xin cho chị quá giang về chợ.
Trước lời cầu khẩn của chị, người tài xế lưỡng lự không chịu, nhưng trước áp lực và bảo đảm của mấy người hành khách, anh tài miễn cưỡng phải chịu. Ở trên xe chị vừa khóc vừa kể lể hoàn cảnh của chị. Nghe vậy ai cũng thương tâm.
Về đến chợ người thiếu phụ nhảy xuống xe lao thẳng vào chợ xăm xăm đi tìm con, bất chấp mọi trở ngại, chị xô người này đẩy người kia, chạm vào hàng vào quán của người ta. Người ta la, chửi, nguyền rủa giật kéo chị, chị để ngoài tai hoặc vùng vẫy để thoát khỏi, miệng chị không ngớt: trả con cho tôi…
Khi về đến địa điểm mà chị đã gởi con, chị thấy một đống rác to tướng. Người thiếu phụ khóc lóc hỏi han nhưng chẳng ai biết mà chỉ cho chị, vì việc của chị chẳng có liên quan gì đến cuộc sống của người ta.
Người thiếu phụ vẫn lang thang suốt buổi ở cuối chợ, hy vọng có thể gặp được bà cụ mà chị đã gửi con không, nhưng vẫn tuyệt vọng. Mãi đến chiều người thiếu phụ mới sực nhớ ra vị ân nhân của chị, chị đánh bạo lại tiệm tạp hóa bữa trước, cách đây hơn một tuần chị đã được giúp đỡ. Lúc chị xuất hiện lại đúng lúc bà chủ đi vắng, chỉ có cô chủ ân nhân. Thấy thiếu phu,ï cô chủ hỏi liền:
– Bé đâu, chị?
Không kềm được nỗi khổ tâm khi có người thông cảm, người thiếu phụ vừa khóc vừa kể lể trường hợp mất con của chị. Thấy người thiếu phụ quá đau khổ, cô chủ cũng khóc theo, mãi một lúc sau cô chủ mới sực nhớ ra líu ríu nói:
– Không khéo bà cụ bỏ đứa bé ở nhà thờ rồi!
– Hả! Sao? Cô nói sao? Đứa bé! Con tôi bỏ ở nhà thờ?
Người thiếu phụ hốt hoảng hỏi, rồi chị bấu lấy cô chủ hỏi dồn dập:
– Ở nhà thờ nào cô?
Người thiếu phụ buông tay cô chủ ra, lấy tay áo chậm nước mắt, rồi lại ngước mắt lên chờ đợi cầu khẩn lời chỉ dẫn của cô chủ. Người thiếu phụ hỏi tiếp:
– Cô nghe sao?
– Dạ! Mấy bữa nay em bận không đi lễ thường xuyên, em chỉ nghe tụi bạn nó nói ở nhà thờ lại có đứa trẻ bị bỏ rơi nữa. Em cũng chưa hỏi rõ.
– Nhà thờ này hả cô? – Vừa hỏi người thiếu phụ vừa chỉ tay về phía nhà thờ.
Cô chủ gật đầu. Người thiếu phụ đứng tần ngần một chút rồi cúi đầu chào cáo từ cô chủ để đi về hướng nhà thờ.
Sáng sớm ngày 22 tháng 4, thánh lễ vừa kết thúc, giáo dân đổ ra về, một số người vẫn giữ thói quen ghé qua núi đá Đức Mẹ để viếng thì vẳng nghe từ chân bàn thờ ở núi Đức Mẹ có tiếng trẻ nhỏ khóc. Vừa tò mò, vừa đã có kinh nghiệm những trường hợp người ta đem con bỏ ở núi đá Đức Me, hai thiếu nữ rủ nhau vào núi Đức Mẹ để khám phá dấu hiệu vừa phát hiện. Hai thiếu nữ xách ra một cái giỏ cói, trong có một đứa trẻ còn đỏ hoe đang giẫy giụa khóc lóc. Những người chung quanh túm lại nhìn, một số đông khác còn lảng vảng chưa về, nghe thấy có trẻ bỏ rơi cũng ào tới quan sát. Tất cả gần như cùng một lời phát biểu: “Đứa bé xinh”. Nhưng rồi kẻ trước người sau tản dần, cả người thiếu nữ đã khám phá thấy đứa bé và đã bồng đứa bé lên cũng định đặt đứa bé lại giỏ để về, nhưng một bà đứng tuổi hơn đề nghị. Bà nói:
– Thôi đưa nó vào nhà Dì phước, gửi các Dì, không có tội nghiệp nó!
Người thiếu nữ đang bế đứa bé cũng chẳng làm gì hơn bằng theo ý kiến của người đề nghị.
Thế là đứa bé gái lại được trao cho Dì. Nhưng vì công việc nhà quá bận rộn, Dì cũng chẳng thể làm mẹ bé được, ngoài một thời gian cho bé được nằm ở bàn mấy giờ đồng hồ và được uống một chút sữa bò.
Sau cùng, đứa bé được trao cho một bà cụ gần tám chục tuổi nuôi nấng với sự trợ giúp của nhà xứ, chờ người hiếm muộn hay hảo tâm đến nuôi.
Ngày một, ngày hai, ngày ba… tin tức đứa bé bị bỏ rơi đã được lan rộng, nhưng vẫn không có gì biến chuyển, đứa bé mất hơi mẹ mặc dù được chăm sóc tương đối chu đáo, được nhiều người bồng bế (vì bé gái rất xinh), nhưng bé vẫn khóc và hình như mỗi ngày mỗi gầy đi… Thời gian kéo dài hơn một tuần lễ sau bé đã mất sắc trông thấy.
Vào một buổi chiều hơn một tuần lễ sau khi đứa bé bị bỏ rơi, có một người thiếu phụ trẻ ăn mặc xộc xệch, khoảng 24, 25 tuổi, nước da trắng, khuôn mặt hiền hậu và rất có duyên. Chị ta hớt hải chạy vào nhà thờ và nằng nặc đòi gặp Cha Sở có việc gấp. Rủi là Cha Sở không có nhà, chị ta đứng trân một hồi lâu như cố nuốt trôi nỗi ấm ức, rồi bình tĩnh lại, chị hỏi tiếp:
– Cho tôi gặp Cha nào ở đây cũng được!
Thấy cách phục sức của người thiếu phụ, lại thấy một lũ trẻ theo sau ai cũng tưởng là người đàn bà “mát” vẫn thường gặp thấy ở khu nhà thờ, nên ai cũng ái ngại không muốn chỉ. Giữa lúc đó Cha Vinh Sơn từ nhà xứ lên nhà thờ, một đứa bé xì xào nói:
– Cha! Cha T…
Người thiếu phụ nghe được vội nhào lại đứng chặn lối đi của Cha Vinh Sơn rồi kể lể sự tình…
Nắm đủ yếu tố, Cha Vinh Sơn vẫy tay hướng dẫn người thiếu phụ xuống nhà bà cụ giữ trẻ. Theo sau chị, người lớn trẻ nhỏ thành một đoàn dài.
Đến gần nhà bà cụ giữ đứa bé, người thiếu phụ nhác thấy bà cụ đang ẵm đứa bé. Mặc dù chưa nhìn thấy mặt đứa bé, người thiếu phụ lao bổ tới, rồi khi tới gần, chị đứng khựng lại ngây người như tượng gỗ, không nói không khóc, khiến mọi người có mặt đều nín thở, hồi hộp không biết việc gì sẽ xảy ra.
Người thiếu phụ vẫn đứng ngây người ra cả phút như vậy rồi mới thốt lên được một tiếng gọn lỏn: “Con”, rồi lao lại ôm chầm lấy con.
Bà cụ già nuôi bé bỗng dưng bị đặt vào một hoàn cảnh quá đột ngột, bà luống cuống không biết phải xử trí ra sao. Bà chỉ hốt hoảng la lên:
– Ủa sao lại kỳ vậy!
Cha Vinh Sơn can thiệp:
– Thôi, bà trao bé cho mẹ nó đi!
Người thiếu phụ đứng không nổi nữa, chị quỳ xuống giơ tay run rẩy đỡ lấy đứa con. Nước mắt giàn giụa, chị nức nở gọi: Con… Con… mẹ đây! Hôm nay mẹ…