Truyện dài : ĐỒNG HÀNH | Chương Ba
Truyện dài : ĐỒNG HÀNH | Chương Ba
Tác giả: Song Nguyễn
3
Như trẻ thơ nép mình lòng mẹ,
trong con, hồn lặng lẽ an vui.
(Tv 130,2)
Sài Gòn, ngày…
Em P. Thành thương mến,
Đọc khúc ca “dang dở” của đời em, chị thấy từng biến cố đều in dấu bàn tay nhân hiền của Chúa, và chị coi đó như là một hồng ân Chúa ban cho chính chị vậy. Đời chị một lần nữa ghi đậm nét tình thương của Chúa, và chị sẽ thật thiếu sót nếu không nói cho em biết những ân huệ Chúa đã làm nơi chị, để bài ca chị em ta được trọn vẹn. Mặc dầu, như em đã viết, bài ca của chị em ta chỉ là một bài ca tầm thường như cây cỏ đồng nội, nhưng dù là cây cỏ, nó cũng phải ca ngợi Chúa như Chúa đã dựng nên nó, em ạ! Đó cũng là một điểm làm cho chị thấy, chị có bổn phận phải cho em biết tất cả những biến cố của đời chị, để em tạ ơn Chúa thay cho chị. Hơn nữa, chị còn nghĩa vụ phải nói ra những điều Chúa đã làm nơi chị, để ca tụng Ngài trong sự yếu hèn của chị.
Em mến, chị vụng về không thể thuật lại đầy đủ mọi việc Chúa đã làm nơi chị. Tệ nữa, tài sức chị có hạn, không có lời văn trau chuốt trơn tru để em dễ đọc. Nhưng chị tin ở tình em đối với chị, em sẽ đón nhận cả những cái bất toàn ở nơi chị, để thêm lời cầu nguyện cho chị.
Em mến, chị viết những dòng này cũng là để cùng với em cầu nguyện cho những người đã nâng đỡ và dẫn đưa chị vào đời, vào nhà Chúa, những người còn sống cũng như những người được Chúa gọi về cùng Ngài.
À, mà khoan đã! Chị xin em một điều này nhé! Em chiều ý chị nhá!
Em thương chị, thì em đừng để lòng em phải chi phối dao động nhé! Chị không muốn những biến cố đời chị làm em mất bình tĩnh. Ngược lại, em cứ nhìn những biến động đời chị như những giọt sương trời mưa xuống cho cây cỏ tốt tươi, và những thử thách chị gặp phải như ánh sáng mặt trời. Ánh sáng cần phải có cho cây xanh tươi, tuy đôi khi có làm cho cây tàn úa. Đàng khác, em ạ! Chị hy vọng biến cố đời chị sẽ là dịp để em thấy bàn tay quan phòng của Chúa đã đưa dẫn chị, để em đền đáp ơn Ngài thay cho chị.
Em thương, và bây giờ chị bắt đầu nhé!
Sau ngày chị phải xa em, chị được gửi cho một thiếu phụ, chồng bà là người quen thân với viên sĩ quan nuôi em. Ông ta đã bị mất tích hai ba năm rồi, còn bà hãy còn trẻ khoảng hai tư, hai lăm tuổi. Bà rất có duyên, người thân thường gọi bà là “thiếu phụ Nam Xương”. Gia đình bà thuộc vào loại khá. Bà chỉ có một đứa con gái nhỏ. Bà nhận nuôi chị vì thương hoàn cảnh chị, vì tình bạn của chồng, nhưng nhất là để Tú Anh – tên đứa con gái nhỏ của bà, có bạn bè vui chơi trong cảnh gia đình cô đơn. Tuy nhiên, trong cách đối xử, bà không phân biệt con nuôi với con đẻ. Bằng chứng là khi chị vừa mới nhập vào gia đình, bà đã làm khai sinh lại cho chị theo tên tộc của gia đình bà. Đã vậy, đứa con gái của bà cũng thương chị như chị ruột vậy, suốt ngày nó quấn quýt bên chị, nên nếu không phải là người quen thân với gia đình, không thể nào biết được chị là người “con vịt mẹ gà”. Cũng nhờ vậy mà một phần nào chị đã quên đi vết thương lòng quá sâu đậm nơi chị, vì chỉ một thời gian ngắn chị đã mất cha, mất mẹ và mất người em độc nhất của đời mình…
Ngay năm ấy, chị đã được má nuôi gửi vào trường các bà Soeurs Saint Paul. Buổi học đầu tiên bây giờ còn làm cho chị thấy cái vụng dại của mình. Từ một đứa bé ở tỉnh nhỏ, chưa bao giờ nhìn thấy một ngôi trường đồ sộ nguy nga như vậy, những dãy nhà cao vút hai ba tầng lầu, những hành lang thênh thang chạy dài, tường nhà sơn màu vàng ánh, càng làm tăng vẻ trang nghiêm và lộng lẫy cho ngôi trường.
Còn các cô giáo, không phải là mấy cô giáo như dưới trường tỉnh, hay mấy Dì Phước áo đen đơn giản. Trái lại, các cô giáo đây là các bà “tiên” Tây. Các bà trao đổi với nhau bằng tiếng Tây, vì tới phân nửa là người ngoại quốc: Pháp, Mỹ, Ái Nhĩ Lan… Bà nào cũng đẹp như tiên vậy, áo dòng các bà mặc lúc nào cũng trắng tinh và không một vết nhăn; đã vậy, lại còn những nếp gấp chạy dọc theo chiều dài áo dòng rất công phu. Đầu các bà được che kín bởi cái lúp xòe ra cuộn vào, y như cái nón kiểu của mấy bà đầm, và hầu như che kín khuôn mặt, chỉ để hở một chút đủ để người ngoài thấy nét kiều diễm của các bà. Đôi chân các bà cũng được đôi vớ trắng bao bọc và đôi giày đen nâng đỡ.
Trước cảnh mới đó, chị như con chim chích lạc vào rừng. Nếu không có má nuôi giữ chặt tay dắt đi, chị đã khóc thét lên vì sợ rồi. Má dắt chị tới bàn giấy bà Hiệu trưởng, bàn giấy của bà uy nghiêm và lộng lẫy, chị chưa thấy bao giờ. Cái gì trong phòng bà cũng đều là kỳ lạ đối với chị. Má với bà trao đổi với nhau điều gì chị không hiểu, chị chỉ thấy bà âu yếm nhìn chị và mỉm cười. Bà đẹp lắm, mắt lại đeo kính trắng càng làm cho bà đẹp thêm, nhưng chị vẫn thấy sợ. Bà kêu chị, chị cứ nép sát vào má. Má đẩy chị lại phía bà, chị lại lui xa bà hơn. Thấy chị sợ, bà dùng tiếng Việt gọi:
– Lại đây với Soeur, cưng!
Má bế bổng chị lên, hôn chị, rồi đưa lại gần phía bà. Má để chị đứng xuống và đẩy về phía bà. Bà bỏ ghế đứng lên đón chị, xoa đầu và nựng chị.
Một lúc sau, bà để má và chị ngồi đợi, còn bà đứng lên đi ra khỏi phòng, chị hồi hộp không biết cái gì sẽ xảy ra. Có lẽ má thấy chị sợ, nên người trấn an:
– Ngoan nhé, cưng! Một lát nữa con sẽ xuống lớp học, có các bạn con sẽ hết sợ.
Nhưng làm sao mà hết sợ được! Chị có quen một ai đâu, má nói với các Soeurs cái gì chị đâu có biết. Chắc một lát nữa cũng vậy thôi, chị xin với má:
– Má cho con về nhà học. Con sợ quá! Con không hiểu gì cả.
Má lại vuốt ve an ủi:
– Không sao đâu, cưng! Các Soeurs sẽ dạy con hiểu, cần nhất là con phải ngoan.
Má ngắt lời, nhìn ra hành lang, má chỉ và nói:
– Kìa! Soeur dạy con đã đến.
Nhìn theo ánh mắt của má, chị thấy hai bà “tiên” đang nhịp nhàng tiến về chỗ chị. Tiếng giày nện trên nền gạch bông và tiếng loạt soạt của áo quần chạm vào nhau, làm cho bước đi của các bà càng thêm nhịp nhàng.
Hai bà bước vào trong phòng, má kéo chị đứng lên chào hai bà. Và má lại trao đổi với hai bà một lát, má đẩy chị về phía bà mới tới, má nói:
– Cưng theo “ma soeur” về lớp đi!
Chị còn đang dùng dằng, một soeur tiến lại nắm lấy tay chị, vuốt đầu chị, soeur nói:
– Theo Soeur, con! Soeur sẽ cưng con.
Má gỡ tay chị đang nắm lấy áo má, má nói:
– Cưng theo Soeur đi học, hết giờ má sẽ đến đón.
Thế là không còn dùng dằng được nữa, Soeur cầm tay chị dẫn đi, mặc cho chị thút thít.
Vào lớp học, bạn bè vỗ tay hoan hô làm cho chị hoảng hốt quên cả mình đang khóc. Soeur cho học sinh ngồi xuống và xếp chỗ cho chị. Chị được ngồi ngay ở bàn đầu, sau này chị mới biết là để Soeur kèm thêm ngoại ngữ cho chị. Các bạn bè tha hồ mà nhìn chị – “một con bé lọ lem” chăng? Ngồi giữa lớp học toàn là con nhà thế phiệt giàu sang. Mà thật, chính chị cũng cảm thấy thế… Nhưng chính vì mặc cảm này, nó đã đẩy chị tới chỗ cố gắng để làm cho tụi bạn khỏi nhìn chị với nửa con mắt.
Chị làm quen được với hoàn cảnh mới rất mau, các bạn bè từ tò mò nhìn chị, đến chỗ quen rồi thân chị. Các bà tiên áo trắng không còn làm cho chị sợ nữa, các bà không có phép mầu như những chuyện chị được nghe; nhưng các bà đều có một tấm lòng hiền hậu, dịu dàng y như những nếp dài trên áo các bà. Các bà rất thương học sinh và chăm sóc từng ly từng tí cho học sinh, nhất là Soeur phụ trách lớp chị. Ngoài cái vẻ dịu dàng, Soeur còn giọng nói nhẹ nhàng, miệng nói y như cười vậy. Bạn bè thường gọi là Soeur “Bạch Tuyết”, mặc dù tên của Soeur là Francoise Trần thị Thu Sương. Không bao giờ Soeur la mắng như các thầy cô ở ngoài; trái lại Soeur dùng tình cảm mà uốn nắn các học sinh của mình. Chị được Soeur chăm sóc đặc biệt. Vì thế, chị hết sức chăm chỉ và ngoan ngoãn để các bà tiên hài lòng và cưng chị.
Có lẽ chị đã không làm các bà phải buồn vì chị. Ngay cuối năm học ấy, chị đã được lãnh phần thưởng ưu hạng, cả hạnh kiểm và học lực. Chị còn được Soeur phụ trách lớp đưa lên sân khấu đơn ca trong buổi phát thưởng nữa.
Khi chị vừa từ sân khấu bước xuống, má đến đón chị ngay bậc thang lên xuống, chị sung sướng ôm chầm lấy má, làm cho gói đồ thưởng rớt bạch xuống đất, khiến quan khách được một trận cười thích thú. Rồi mọi người hướng về má hỏi thăm tên tuổi, xoa đầu khen thưởng chị.
Kỷ niệm này đã ghi đậm trong lòng chị: một phần nào chị đã làm cho các bà tiên hài lòng và cho má nuôi thỏa mãn về công khó nuôi dưỡng chăm sóc chị; đồng thời, chị cũng phải cố gắng luôn để không bao giờ làm giảm sút lòng tin của mọi người.
Nhờ sự chăm sóc rất kỹ của gia đình và các Soeurs, chị vẫn giữ được phong độ đã thu hoạch được, nên các Soeurs càng chú ý hơn nữa. Theo chế độ ngoại trú, cứ sau buổi học là các học sinh phải theo xe trở về gia đình và ngày hôm sau xe đến rước. Phần chị lại được các Soeurs cho ở ngoài cái thông lệ đó. Chị được ở lại để các Soeurs dạy hát, dạy vũ, đặc biệt chị còn được các Soeurs dạy đàn dương cầm nữa. Môn nào chị cũng để hết tâm học hành, chị luôn luôn sợ làm các Soeurs buồn.
Vì vậy mà không một buổi văn nghệ nào chị vắng mặt cả: khi hát đơn ca, khi hợp ca, khi múa… Kỷ niệm đáng ghi nhớ nhất của chị trong các môn nghệ thuật này là dịp giữa năm lớp năm, chị được các Soeurs dạy đàn, đưa chị lên sân khấu trình diễn dương cầm trước mặt phái đoàn của Bộ Giáo Dục đến viếng trường. Bản đàn chấm dứt, khán giả nhiệt liệt khen thưởng. Theo chị, không hẳn vì nghệ thuật, nhưng có lẽ vì thấy con bé “ngây ngô” dám lên trình diện trước mặt các nhà thông thái, các nhà nghệ thuật cao cường. Đến bây giờ, chị cũng chẳng còn nhớ chị đã chơi bài gì nữa, chỉ nhớ một điều là Soeur bảo gì, chị vâng lời liền.
Hết năm lớp năm, má nuôi tính để chị theo học ở trường công cho đỡ tốn, vì hai chị em cùng đi học – năm này Tú Anh bắt đầu vào mẫu giáo – má không chịu nổi phí tổn. Chị thấy ý của má nuôi rất hợp lý, chị hiểu được phần nào hoàn cảnh gia đình: chỉ có chi, mà không có thu, hay có cũng rất ít. Hơn nữa, chị cũng phải hy sinh cho em nhỏ có một căn bản, còn chị, dù sao cũng tạm được rồi. Lẽ dĩ nhiên phải bỏ trường là một thiệt thòi rất lớn cho chị, không kể tình cảm sâu sắc với các bà tiên áo trắng, mà còn bước đường nghệ thuật cũng tan vỡ. Nhưng chị nghĩ: từ không có, Chúa cho có, rồi Chúa cất đi là quyền của Chúa, và chị vẫn nhớ đến thân phận của chị, được như thế là đã quá lắm rồi.
Thế nhưng, khi biết chị phải thôi học vì hoàn cảnh gia đình, các Soeurs đã bằng lòng cho chị học miễn phí. Sau khi cân nhắc, tuy rằng vẫn còn phí tổn vì những bộ đồng phục của học sinh, rồi còn những chi phí khác cũng không phải là ít. Nhưng một đàng vì tình nghĩa với các Soeurs, một đàng vì thương con; đàng khác cũng để có người dẫn dắt Tú Anh, nên má nuôi đã bằng lòng cho chị học lại trường cũ.
Được tiếp tục theo bậc Trung học ở trường cũ, tình cảm của chị đối với các Soeurs ngày càng nặng. Nhất là khi bước vào lớp học, bạn bè của chị đã giảm rất nhiều, đứa qua học ở trường tư này, đứa học trường công nọ, trong khi số phận chị đáng lẽ phải bỏ trường. Đây cũng là một lý do để chị cám ơn Chúa và cố gắng đền ơn các vị ân nhân.
Bước lên bậc Trung học, chị vẫn được đôi cánh tiên của các Soeurs bao bọc che chở. Chị được các bà cho tham dự các giờ kinh của các bà. Trong giờ phút linh thiêng này, không phải vì tiếng hát thiên thần của các bà, nhưng còn vì ý nghĩa của lời Thánh Vịnh làm cho chị ngây ngất. Chị tưởng như được đưa vào thiên giới để nghe các thiên thần ca ngợi Chúa. Cũng nhờ vậy mà chị biết cầu nguyện sớm, thuộc được nhiều Thánh Vịnh và nhất là, chị ước ao chị cũng được hát kinh ca tụng Chúa như các Soeurs.
Ngoài ra, các Soeurs còn trao cho chị công tác giúp mấy em nhỏ học thêm. Công tác này cũng làm cho chị ưa thích không ít, chị có dịp được thấy mình lớn hơn, được chăm sóc thương yêu các em nhỏ. Mặc dù, chỉ phụ giúp các em trong ít giờ rảnh rang, chị cũng đã làm với tinh thần trách nhiệm cao. Ngược lại, các em nhỏ cũng thương chị hết mình, chúng quấn quýt chị ngay cả trong những giờ chơi, đến nỗi các Soeurs phải can thiệp, còn bạn bè trêu chị là “bà mẹ tí hon”.
Ngoài hoạt động ở trường, chị còn được các Dì nhà thờ kêu vào ca đoàn nhà thờ. Chị không biết là do đâu các Dì biết chị ở trong ban văn nghệ của trường, chị chỉ nhớ sau dịp Dì Bảy phụ trách đàn hát ở nhà thờ tới thăm viếng gia đình và to nhỏ với má gì đó, rồi một lần khác, có mặt Dì Bảy, má kêu chị và bảo:
– Từ nay con theo Dì Bảy hát lễ nhà thờ nha!
Trước mệnh lệnh của má, chị đâu dám làm trái, chị chỉ thắc mắc với má rằng:
– Con mắc nhiều chuyện bên nhà trường quá, rồi lại còn kèm Tú Anh… Con sợ làm không được Dì buồn.
Dì Bảy trấn an chị:
– Đừng lo, cưng! Ca đoàn của Dì không phải mất nhiều giờ lắm đâu mà sợ. Khi nào rảnh con tập, khi bận thì thôi.
Má cũng thêm vào.
– Dì nói thế, tôi cũng sẵn sàng. Nhưng tôi đã thưa Dì nhiều lần, nhà chỉ có cháu lớn, đã vậy các Soeurs cũng kêu cháu luôn. Tuy nhiên, là việc Chúa, tôi cũng sẵn lòng. Nếu khi nào cháu bận, Dì cũng thông cảm cho.
Cuộc dàn xếp đưa chị vào ca đoàn xong, Dì Bảy hứa với má là sẽ thông cảm…
Nhập vào ca đoàn nhà thờ, chị đã mau được Dì Bảy tín nhiệm. Lúc đầu Dì để cho chị sô-lô với một chị lớn; nhưng ít lâu, chị lớn phải theo gia đình đi xa, Dì lại đưa chị lên hát chính. Ngoài ra, đôi khi bận việc, Dì còn nhờ chị đánh đàn hộ. Nhờ công tác này, mỗi ngày chị gần gũi với các Dì và cũng trở nên thân thiết với các Dì hơn. Đối lại, các Dì cũng tỏ ra thương mến chị và gia đình nhiều hơn.
Chị nhớ một lần Tú Anh đau nặng, một mình má loay hoay không lo hết việc. Đã thế, Tú Anh khi ngủ thì thôi, hễ thức một phút, nó cũng không rời chị, nên chị đành phải nghỉ hát. Thế là lễ xong, Dì đã vội tới nhà tìm lý do. Được biết Tú Anh đau, các Dì thay nhau thăm viếng và cưng chiều Tú Anh.
Những cử chỉ săn sóc âu yếm của các Dì đã nhẹ nhàng lẻn vào lòng chị lúc nào không hay, nhất là nếp sống giản dị thành thật của quý Dì như một động lực thu hút chị lạ lùng. Có lẽ nếp sống của quý Dì hợp với cuộc đời của chị, tình cảm tốt đẹp ấy cứ lớn dần theo thời gian.
Cuối năm lớp chín chị thi đậu Brevet, nhà trường có tổ chức một buổi liên hoan, vừa để học sinh tỏ lòng biết ơn các Soeurs, vừa để giới thiệu trường, nên quan khách tham dự đều là những vị được lựa chọn.
Buổi trình diễn văn nghệ rất đặc sắc: không những tiết mục được lựa chọn mà tất cả các diễn viên đều trổ tài sau những thành quả học tập của mình. Chị cũng trong tâm trạng ấy, chính má cũng như các Soeurs giúp chị. Sau này má cho chị biết, bữa hôm đó chị trình diễn rất xuất sắc đến nỗi má không giữ nổi nước mắt khi nghe chị ca bài Ave Maria của Schubert. Ngay cả phần trình diễn dương cầm của chị cũng được tán thưởng.
Nhưng, một chữ “nhưng” rất lớn. Giữa lúc chị như đang bước lên đài vinh quang, Chúa xuất hiện nhắc nhở chị đừng quên ơn của Ngài.
Sau buổi trình diễn văn nghệ, bạn bè ra về, chị em vừa đạp xe vừa trao đổi với nhau về buổi văn nghệ. Dường như đường phố chẳng còn ai và chẳng còn chuyện gì đáng nói hơn, thình lình một người cưỡi xe gắn máy từ một đường phố ngang, phóng nước đại đâm thẳng vào bánh xe trước của chị. Chị chỉ kịp thét lên một tiếng, rồi té bất tỉnh. Lúc biết đau và tỉnh lại, chị đã thấy chị nằm trong nhà thương. Mở mắt ra, chị thấy má, Tú Anh và bạn bè đang đổ dồn con mắt theo dõi biến động của chị. Thấy chị mở mắt, mọi người đều thở ra và cố làm cho chị thấy họ. Má nuôi đặt tay lên ngực chị nói:
– Con đã đỡ chưa?
Tú Anh cũng nắm lấy tay chị, nó rưng rưng khóc gọi chị “Chị Hai!”. Bạn bè mấp máy đứa nào cũng muốn nói một câu, nhưng thấy chưa tiện, nên đứng nhìn.
Trước cảnh tượng đó, chị hiểu mọi người đang chia sẻ đau đớn với chị. Chị không nên làm cho họ sợ, chị cố hết sức nói với má:
– Má cứ yên chí, con không sao đâu…
Nghe chị nói, thay vì má vui, má lại ứa nước mắt ra, vì chắc má nghĩ chị đau đớn lắm, mà cố làm vui lòng má đó thôi. Mặt mũi chị chỗ nào cũng thấy vướng, rồi cánh tay và bàn chân trái cũng vướng băng. Thấy má khóc, Tú Anh cũng khóc theo. Nó nắm tay chị, lắc lắc gọi:
– Chị Hai! Chị Hai!
Nó làm cho chị cũng ứa nước mắt ra. Chị cố an ủi nó:
– Nín đi cưng, chị không sao đâu! Chị có thể về với em bây giờ.
Tú Anh đơn sơ hỏi lại:
– Thật hả, chị Hai!!!
Chị gật đầu nói với nó:
– Thật, chị hứa mà!
Nghe chị em trao đổi, má nguôi dần. Bà an ủi chị:
– Thôi, con cứ nằm nghỉ đã. Khi nào bác sĩ cho về, con mới được về.
Tai nạn này làm chị nằm nhà thương gần hai tuần lễ. Khi trở về nhà, má giữ chị ở nhà luôn. Chị chỉ được ra ngoài khi có má hoặc Tú Anh đi theo. Sở dĩ má giữ chị như vậy chính là vì lý do đã gây ra tai nạn cho chị. Số là một thanh niên, anh của chị bạn, yêu thầm thương vụng chị. Theo má cho biết, anh ta đã nhiều lần tìm cách gửi thư cho chị ở trường. Khi qua bưu chính, khi nhờ trung gian, nhưng đều bị các Soeurs khám phá và ngăn chặn hết, còn thư gửi đến nhà đã bị má tóm. Trong khi đó, anh chàng lại tưởng chị, không nhiều thì ít, đã nhận được thư của anh mà làm kiêu với anh. Thế là anh ta rắp tâm làm nhục chị để cảnh cáo. Giả thử má không nói, chị cũng chẳng bao giờ biết và có thể bị nặng hơn là khác.
Nhưng khổ một nỗi, thời gian bị giữ ở nhà lại làm cho chị hay suy nghĩ vẩn vơ. Chị cảm thấy gần mất vẻ hồn nhiên lúc trước: hay buồn, mau chán, không còn hứng thú với việc gì như trước nữa. Chính Tú Anh cũng phải than:
– Chị Hai kỳ quá!…
Còn má thì lo lắng, khi thấy chị biếng ăn, ít cười, ít nói, lúc nào thấy cũng có vẻ trầm tư, ăn ít, ngủ ít, thân thể suy nhược. Má lại tưởng tai nạn vừa rồi đã gây nên những hậu quả ấy, nên má tẩm bổ đủ thứ thuốc men, đồ ăn, thức uống… Nhưng má có biết đâu, đây là lúc chị đang nghĩ về chị nhiều, đang mơ ước đến những cái gì đâu đâu!!!
Thấy má và em lo lắng về chị, chị thấy mình thực có lỗi. Chị đang là người sống nhờ, ý tưởng này giúp chị vùng dậy, chị tìm đủ mọi việc làm trong nhà: thu dọn, sắp xếp, đến nỗi má và Tú Anh cũng phải ngạc nhiên. Đã vậy, chị còn xin má chỉ cho chị cắt may đồ mặc ở nhà, chị đã hoàn thành được bộ đồ ngủ cho chị và Tú Anh. Con nhỏ nó xí xọn lắm, chị ra nghề, may cho nó mặc ngủ, con nhỏ lại đi khoe lung tung làm cho bạn bè nhạo chị, đề nghị chị mở tiệm may.
Việc làm cho chị nhớ nhất trong thời kỳ khủng hoảng của chị là biến cố này: chị đã vắng mặt trong ca đoàn cả mấy tuần lễ rồi, nên cũng chỉ biết ít tin tức về ca đoàn, đùng một cái Dì Hai ghé lại thăm nhà và báo tin Dì Bảy phụ trách đàn hát nhà thờ phải đi bệnh viện rồi. Dì nói:
– Cha Sở cho gọi con vào phụ giúp ngài.
Ban đầu má nuôi không bằng lòng, lấy lý do là chị mới khỏi đau không đàn hát được; hơn nữa, má không muốn cho chị đi đi lại lại nhiều. Nhưng rồi Cha Sở lại cho Dì ra đề nghị với má để cho chị tạm ở nhà các Dì, để chị khỏi phải đi lại. Thấy nhu cầu của nhà thờ, má sợ từ chối sẽ làm buồn lòng Cha Sở, mất lòng Chúa, nên bà cho chị đi. Đàng khác, bà cũng muốn để chị một thời gian gần Chúa, gần Mẹ để chị tìm được nguồn an ủi. Cái khó là Tú Anh nó không chịu xa chị, nên các bà bằng lòng để hai chị em “đi tu” luôn…
Quả như dự đoán của má, đây là lúc chị được gần Chúa, gần Mẹ nhất. Ngoài việc đàn hát trong nhà thờ, chị còn có nhiều giờ cầu nguyện, đọc những sách đạo đức, nhất là tận mắt được nhìn thấy những gương sáng.
Cha Sở, một ông già gần sáu chục tuổi, mái tóc trên đầu chỉ còn lất phất mấy sợi đen, vầng trán đã khắc sâu những vết nhăn của thời gian, thế nhưng ngài vẫn còn khỏe mạnh, lanh trai, làm việc hầu như không biết mệt mỏi. Với tấm áo dài đen đơn giản không có đường eo, ngài đến với mọi người, ở mọi nơi trong giáo xứ, khi có nhu cầu cần đến ngài. Dù công việc nhiều, lúc nào ngài cũng bình tĩnh, nhìn mọi người với ánh mắt nhân hậu và nụ cười vui tươi…
Còn các Dì, nếp sống đơn giản giống như tấm áo phủ trên mình các Dì. Cả đến ăn uống cũng thật đơn giản. Tuy nhiên công việc phục vụ Chúa, phục vụ giáo xứ thật đáng kể, coi như cả ngày, các Dì lúc nào cũng bận rộn: hết việc nhà thờ, đến việc nhà xứ, việc dạy kinh, và làm lụng để sinh sống… Thế mà các Dì vẫn hăng say vui tươi, coi như các Dì chỉ có một lo lắng chính, là được hao mòn vì Chúa. Dì Bảy là một bằng chứng.
Nhìn những tấm gương và suy nghĩ về mình, chị thấy nảy ra trong chị một ý nghĩ: chị phải làm một cái gì để đáp đền ơn Chúa, đền ơn những người nuôi dưỡng lo lắng cho chị đến ngày nay chứ?
Ngày Dì Bảy trở về cũng là lúc sắp sửa vào năm học mới. Má muốn chị tiếp tục học để có tương lai. Ý nghĩ má quá tốt. Nhưng phải đáp ứng ý của má, chị thấy ray rứt vô cùng, chị sẽ không thực hiện được ý muốn của chị.
Nhưng phải nói với má làm sao bây giờ? Chối từ lòng thương của má đó là một điều chị không thể làm được. Má sẽ đau khổ và chị sẽ phải ân hận suốt đời. Mà nếu vâng lời má, chị sẽ không có cơ hội nữa, nên chị phải xin khất má ít bữa để suy nghĩ. Dịp may đến, không hiểu do tình cờ hay hữu ý, Cha Sở ra thăm má, rồi vui câu chuyện, má đưa việc của chị ra hỏi ý Cha Sở. Cha Sở điềm nhiên trả lời:
– Ý tôi, tôi muốn cho con nhỏ nhà đi tu!
Nghe hai tiếng “đi tu”, nét mặt má thay đổi hẳn, đang vui tươi, má bỗng trở nên suy nghĩ.
Đợi không thấy má nói gì nữa, Cha Sở lại thêm:
– Tôi thấy nó có ơn kêu gọi đi tu dòng áo đen đó.
Lần này má phải miễn cưỡng trả lời:
– Vấn đề này con chưa dám quyết, cha để con hỏi ý kiến cháu đã.
Phần chị, chị thấy lúc này bất kỳ chị phát biểu một ý kiến nào cũng sẽ làm má buồn, nên dù Cha Sở đang nhìn chị để hỏi ý kiến, chị giả vờ không biết, và cố gọi Tú Anh lên chào Cha Sở để thoái thác.
Quả là ý kiến của Cha Sở làm cho má bối rối thật. Suốt ngày hôm đó má như có điều chi buồn buồn. Tối hôm đó, chị đang dạy Tú Anh sử dụng một món đồ chơi của Dì Bảy mới gửi cho nó. Bỗng nhiên má đến gần hai chị em, má đưa ý kiến Cha Sở ra hỏi chị. Chị chưa kịp trả lời, Tú Anh đã liến thoắng trả lời:
– Bao giờ lớn bằng chị, em cũng sẽ đi tu, ở nhà làm gì cho người ta phá mình, chị Hai hé!
Thấy nó đồng tình, chị như thêm can đảm, nên thưa với má:
– Nếu má bằng lòng, con xin phép má cho con theo các Dì.
Vẫn nét mặt đăm chiêu suy nghĩ, bà nhìn thẳng vào mắt chị, làm cho chị lo sợ. Chị nghĩ bà sẽ chối hoặc nói lời giỗi; trái lại bà ôn tồn nói:
– Nếu con muốn, má đâu có cưỡng ý Chúa. Nhưng má chỉ ngại một điều là con làm như vậy, các Soeurs Nhà Trắng sẽ buồn gia đình mình lắm!
Câu trả lời của má mặc dù là điều chị chờ đợi, nhưng nó lại gây cho chị nhiều vấn đề quá. Chị không ngờ má đã nhượng bộ chị một cách dễ dàng như vậy. Đàng khác, má lại đặt ra cho chị vấn đề giữa các Soeurs và các Dì. Thực sự, việc chọn Dòng này hay Dòng kia đến giờ chị cũng chưa giải thích được. Với các bà “trắng”, chị đã chịu ơn các bà rất nhiều; từ chập chững, các bà đã từng bước dắt chị vào đời, lo lắng, săn sóc từng ly từng tí; từ học hành đến nghệ thuật, từ việc học biết Chúa đến mến Chúa, các Soeurs đã làm cho chị tất cả. Phần chị, chị rất mến và kính trọng các Soeurs. Tuy nhiên, có một điều này vẫn ám ảnh chị, chị là một đứa trẻ mồ côi, đâu chị có đáng được làm bà “tiên” của Chúa, lúc nào cũng uy nghiêm trong bộ áo trắng tinh. Chị chỉ muốn một bộ áo đen đơn giản…
Nhưng phải trả lời với má thế nào để má bằng lòng, khi bà vừa nhượng bộ cho chị đi tu. Đàng khác, để bà không hồ nghi về lòng biết ơn của chị đối với các Soeurs. Chị còn suy nghĩ để trả ơn, và một lần nữa, Tú Anh đã giúp chị, nó nói:
– Đi tu nơi đâu cũng được, nhưng chị phải nhớ về thăm má và em luôn.
Chị nhìn Tú Anh và thầm cám ơn nó. Chị kéo nó lại gần chị để lấy thêm nghị lực. Lợi dụng ngay câu nói của Tú Anh, chị thưa với má:
– Thưa má, đây cũng là nỗi băn khoăn của con, con muốn xin má cho con đi tu dòng áo đen để được ở gần với gia đình, còn dòng các Soeurs, – chị chưa hiểu gì về luật Dòng, nhưng chị cứ nói đại để có lý bênh vực ý muốn của mình -, con sợ là phải xa gia đình lâu. Hồi vừa rồi Soeur Giám đốc có ngỏ ý rủ con đi tu, Soeur cũng cho con biết, nếu con vào tu Dòng này, con sẽ được gửi đi ngoại quốc học…
Nghe mấy tiếng đi học ở ngoại quốc là má nuôi sợ, bà vội nói:
– Ừ, thôi tùy ý con, nhưng con phải liệu làm sao cho các Soeurs đừng giận gia đình.
Chị nhớ là Cha Sở có hứa: chính ngài đã dàn xếp vụ này với các Soeurs, nên chị trấn an má:
Cha Sở đã hứa với con là ngài sẽ dàn xếp để các Soeurs chẳng những bằng lòng mà còn vui lòng nữa là khác.